Monday, September 14, 2026

Từ hoạt động Phật giáo đến nhãn “đặc vụ”: đừng quy tội bằng liên hệ

Một chiếc áo tu không làm cho ai đứng ngoài pháp luật; nhưng một bức ảnh với quan chức, một chức danh trong tổ chức xã hội hay một mối liên hệ với quê hương cũng không tự động biến một chức sắc thành “đặc vụ”. Đó phải là điểm xuất phát khi đọc những tranh luận gần đây quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Trên một số trang mạng, hoạt động Phật giáo, quan hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tư cách tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chương trình hướng về quê hương đã bị đặt cạnh pháp luật Hoa Kỳ về người đại diện cho chủ thể nước ngoài, rồi hình thành chuỗi suy luận: có quan hệ với tổ chức trong nước, vậy là “người của Nhà nước”; là “người của Nhà nước”, vậy là “đặc vụ”. Mỗi bước trong chuỗi ấy đều cần chứng cứ pháp lý riêng.

Một bài trong chiến dịch công khai mang tên “Đẩy lùi Nghị quyết 23” dùng cụm “đặc vụ nước ngoài khoác áo thầy tu”, khẳng định đã có người được “cài cắm” vào cộng đồng dưới vỏ bọc tôn giáo, rồi nêu tên một số chức sắc và cá nhân có quan hệ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức trong nước. Một bài khác cho rằng Nghị quyết 23 tạo “cơ hội” áp dụng pháp luật Hoa Kỳ đối với những người làm “đại sứ văn hóa”, truyền thông về chính sách Việt Nam hoặc tham gia một số tổ chức chính trị - xã hội. Một bài phát biểu khác mô tả Nghị quyết 23 như “mối hiểm họa” đối với Phật giáo ở hải ngoại. Những quan điểm ấy có quyền được nêu ra, nhưng việc chuyển từ nghi vấn sang kết luận về tư cách “đặc vụ” là bước nhảy phải được chứng minh.

Đây là nguy cơ quy tội bằng liên hệ: một người có quan hệ với một tổ chức; tổ chức ấy có liên hệ với một nhà nước; từ đó người này bị coi là đang hoạt động bí mật cho nhà nước đó. Quan hệ tổ chức có thể là dữ kiện cần xem xét, nhưng không phải kết luận cuối cùng. Một chức sắc tham gia tổ chức xã hội, gặp cán bộ ngoại giao, xuất hiện trong sự kiện cộng đồng hay giữ chức vụ tôn giáo trong một hệ thống xuyên biên giới đều có thể làm phát sinh câu hỏi về tính độc lập, nhưng không tự nó chứng minh quan hệ chỉ đạo bí mật. Muốn đi đến kết luận nghiêm trọng hơn, phải chỉ ra ai ra lệnh hoặc kiểm soát; hoạt động cụ thể nào được thực hiện; hoạt động ấy phục vụ chủ thể nước ngoài ra sao; và cơ quan có thẩm quyền đã kết luận thế nào.

Pháp luật Hoa Kỳ về đăng ký người đại diện cho chủ thể nước ngoài cũng không đơn giản như cách một số bài mạng diễn đạt. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ giải thích rằng luật hướng tới tính minh bạch đối với người hành động theo yêu cầu, chỉ đạo hoặc kiểm soát của một chủ thể nước ngoài và thực hiện một số hoạt động nhất định tại Hoa Kỳ, như hoạt động chính trị, quan hệ công chúng, vận động hoặc đại diện lợi ích trước cơ quan công quyền. Luật không quy định rằng cứ có quan hệ với một tổ chức nước ngoài thì đương nhiên trở thành “đặc vụ”. Quan hệ đại diện và hoạt động cụ thể mới là những yếu tố phải được xem xét.

Đáng chú ý, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ công khai nêu ngoại lệ đối với các hoạt động tôn giáo chân chính, cùng một số hoạt động học thuật, khoa học và nghệ thuật. Ngoại lệ này không tuyệt đối: nếu một người nhân danh tôn giáo nhưng đồng thời tiến hành hoạt động chính trị vì lợi ích của chủ thể nước ngoài thì ngoại lệ có thể không được áp dụng. Quy định ấy cho thấy pháp luật Hoa Kỳ không đồng nhất sinh hoạt tôn giáo xuyên quốc gia với hoạt động đại diện chính trị. Việc đăng ký, nếu phát sinh nghĩa vụ, chủ yếu nhằm minh bạch nguồn gốc của hoạt động ảnh hưởng nước ngoài; bản thân đăng ký không phải bản án hình sự.

Nghị quyết xác định hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc; nhấn mạnh không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội; yêu cầu chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, đồng thời tôn trọng pháp luật, phong tục và tập quán của nước sở tại. Văn bản đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ và lắng nghe cả những quan điểm khác biệt nếu không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Có thể tranh luận về cách triển khai, nhưng không thể từ vài câu về kết nối mà suy ra một kế hoạch bí mật.

Hoạt động tôn giáo vượt biên giới không phải hiện tượng đặc biệt của Việt Nam. Giáo hội Công giáo duy trì hệ thống giáo phận, giáo sĩ, hội dòng và hiệp hội tín hữu tại nhiều quốc gia, đồng thời có quan hệ tôn giáo với Tòa Thánh. Trong Phật giáo, tổ chức từ thiện Từ Tế có tình nguyện viên ở hàng chục quốc gia và đã cứu trợ tại hơn một trăm quốc gia. Quan hệ xuyên biên giới tự nó không phải hoạt động gián điệp; pháp luật phải đánh giá hành vi cụ thể.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với cộng đồng Phật giáo người Việt ở nước ngoài. Một ngôi chùa có thể vừa là cơ sở tôn giáo, vừa là nơi dạy tiếng Việt, tổ chức lễ nghi, cứu trợ, hỗ trợ người cao tuổi, kết nối thế hệ trẻ và duy trì văn hóa. Một vị tu sĩ có thể tham dự sự kiện với cơ quan đại diện Việt Nam mà vẫn thực hiện chủ yếu chức năng tôn giáo. Ngược lại, nếu có bằng chứng một cá nhân nhận chỉ đạo để tiến hành hoạt động chính trị thuộc phạm vi phải đăng ký theo pháp luật sở tại thì cá nhân ấy phải chịu sự xem xét như mọi người khác. Hai khả năng này phải được phân biệt bằng chứng cứ, không phải bằng chiếc áo tu hay một tấm ảnh.

Việc dán nhãn trước kết luận pháp lý còn tạo hậu quả nhân quyền đáng lo ngại. Khi một chức sắc bị gọi là “đặc vụ” mà chưa có kết luận có thẩm quyền, danh dự cá nhân bị tổn hại, tín đồ bị đẩy vào thế lựa chọn phe và cơ sở tôn giáo dễ trở thành nơi đối đầu chính trị. Tranh luận về ảnh hưởng nước ngoài vì thế có thể trượt thành kỳ thị trong chính cộng đồng tôn giáo.

Nguy cơ lớn hơn là biến sự khác biệt giữa các tổ chức Phật giáo thành cuộc truy xét lòng trung thành. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có lịch sử phức tạp, nhiều thế hệ và nhiều trải nghiệm chính trị khác nhau. Tôn giáo có thể là chiếc cầu làm dịu khác biệt, nhưng cũng có thể bị kéo thành chiến tuyến nếu người ta thay pháp lý bằng nhãn dán. Một chiến dịch công khai đặt mục tiêu “đẩy lùi Nghị quyết 23” có quyền vận động cho quan điểm của mình; nhưng mục tiêu vận động không thể thay thế chuẩn mực chứng cứ khi nói về những cá nhân cụ thể.

Ở chiều ngược lại, các cơ quan và tổ chức Việt Nam cũng cần chủ động giảm khoảng trống gây nghi ngờ. Quan hệ giữa cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ sở tôn giáo ở nước ngoài nên minh bạch về tư cách pháp lý, tài chính và nội dung phối hợp. Nếu hoạt động thuần túy tôn giáo, văn hóa hay từ thiện thì nên công khai rõ mục tiêu ấy. Nếu có hoạt động thuộc phạm vi pháp luật nước sở tại yêu cầu đăng ký hoặc báo cáo thì cần tuân thủ đầy đủ. Minh bạch là cách bảo vệ chức sắc, tín đồ và uy tín của chính sách.

Giá trị nhân văn của Nghị quyết 23 chỉ có sức thuyết phục khi được thể hiện bằng thực tiễn: tôn trọng khác biệt tôn giáo, bảo vệ quyền lựa chọn của kiều bào, hỗ trợ đời sống tinh thần, khuyến khích hòa hợp nhưng không cưỡng ép đồng nhất quan điểm. Một chính sách đúng không cần được bảo vệ bằng việc phủ nhận mọi nghi vấn; nó cần được bảo vệ bằng thông tin công khai, cơ chế rõ ràng và khả năng kiểm chứng.

Nguyên tắc cuối cùng rất đơn giản: chức sắc tôn giáo không đứng trên pháp luật, nhưng cũng không đứng dưới pháp luật. Nếu có chứng cứ về hoạt động chính trị theo chỉ đạo của chủ thể nước ngoài, hãy để cơ quan có thẩm quyền áp dụng luật. Nếu chỉ có quan hệ tổ chức, ảnh chụp, chức danh hay hoạt động tôn giáo xuyên biên giới, những dữ kiện ấy có thể đặt ra câu hỏi nhưng chưa đủ để biến một con người thành “đặc vụ”. Bảo vệ an ninh và bảo vệ tự do tôn giáo không đối nghịch nhau; cả hai đều đòi hỏi đánh giá con người bằng hành vi và chứng cứ, không bằng phép quy tội qua liên hệ.


“Thâu tóm hội đoàn” hay kết nối cộng đồng? Đọc chính sách bằng chứng thay vì giả định

Một trong những cách dễ nhất để biến một chính sách cộng đồng thành câu chuyện đáng sợ là bắt đầu bằng một giả định rồi lặp lại giả định ấy như thể nó đã được chứng minh. Tranh luận quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đang xuất hiện đúng hiện tượng đó. Một số bài viết trên Việt Tân, Thời Báo và các trang mạng xã hội cảnh báo nguy cơ “thâu tóm hội đoàn”, “dựng hội đoàn vệ tinh”, “cài người”, “lấn không gian cộng đồng”. Những cách diễn đạt ấy tạo cảm giác rằng một quá trình kiểm soát có tổ chức đã và đang diễn ra. Nhưng khi đối chiếu với văn bản gốc và tiêu chuẩn chứng minh của một cáo buộc nghiêm trọng, khoảng trống lớn nhất lại chính là bằng chứng.

Bài của Việt Tân đăng đầu tháng 9-2026 là ví dụ điển hình. Từ việc Nghị quyết 23 nói đến hỗ trợ hội đoàn, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt và tăng cường kết nối cộng đồng, bài viết suy luận thành “tài trợ cho các tổ chức thân cộng trá hình”, “mua chuộc”, “cài cắm nhân sự”, “lấn dần không gian hoạt động” của các đoàn thể chống chính quyền. Ở mức thận trọng hơn, Thời Báo đặt câu hỏi liệu việc xây dựng mạng lưới cộng đồng có thể dẫn tới những “hội đoàn vệ tinh” hay không, nhưng chính bài này cũng thừa nhận các cáo buộc dựng hội đoàn, cài người hay tài trợ để thao túng là nhận định nghiêm trọng và cần bằng chứng độc lập trước khi kết luận. Một bên biến khả năng thành kết luận; bên kia còn thừa nhận phải có chứng cứ.

Muốn đánh giá khách quan, trước hết phải đọc đúng nguyên văn Nghị quyết 23. Văn bản xác định cần mở rộng, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hội đoàn, mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng “đoàn kết, tự chủ”, tăng cường kết nối với nước sở tại và trong nước. Nghị quyết đồng thời yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại; nhấn mạnh bảo hộ công dân, hỗ trợ pháp lý, giúp đỡ người gặp khó khăn, giữ gìn tiếng Việt, văn hóa, tăng cường hòa hợp dân tộc và phát huy nguồn lực trí thức, doanh nhân, thanh niên. Nếu chỉ giữ lại cụm “củng cố hội đoàn” nhưng bỏ đi “tự chủ”, “phù hợp pháp luật nước sở tại” và “hòa nhập sâu rộng”, người đọc sẽ nhận được một bức tranh khác hẳn văn bản gốc.

Về phương pháp, một tổ chức chỉ có thể bị gọi là “bị thâu tóm” khi có dữ liệu cho thấy quyền tự quyết của nó đã bị chuyển sang một chủ thể khác. Muốn chứng minh điều này phải xem ai quyết định nhân sự, điều lệ trao quyền cho ai, nguồn tiền đến từ đâu và kèm điều kiện gì, hoạt động do hội viên tự quyết hay theo mệnh lệnh, tổ chức có che giấu quan hệ kiểm soát hay không. Việc một hội đoàn nhận hỗ trợ, phối hợp với cơ quan đại diện hoặc tổ chức sự kiện về quê hương tự nó chưa chứng minh bị thâu tóm. Không có tài liệu về quyền kiểm soát, mệnh lệnh, tài chính có điều kiện hoặc nhân sự bị áp đặt thì “thâu tóm” mới chỉ là giả thuyết.

Hội đoàn người Việt ở nước ngoài cũng không tồn tại chỉ để làm chính trị. Trong thực tế, họ hỗ trợ thủ tục, giúp người khó khăn, tổ chức sinh hoạt văn hóa, dạy tiếng Việt, kết nối sinh viên, doanh nhân và chuyên gia. Khi có thiên tai, dịch bệnh hoặc khủng hoảng, nhiều hội đoàn trở thành đầu mối tương trợ. Đó là những chức năng bình thường của một cộng đồng di cư.

Các mạng lưới doanh nhân, trí thức và thanh niên người Việt đã tạo ra nhiều hoạt động cụ thể. Hội Doanh nghiệp và Doanh nhân Việt Nam tại Vương quốc Anh tiếp tục kết nối các thế hệ doanh nhân và gắn doanh nghiệp Việt tại Anh với thị trường trong nước và châu Âu. Tại Hoa Kỳ, mạng lưới chuyên gia và sinh viên Việt Nam kết nối học giả, doanh nghiệp và nguồn lực tri thức. Tại Ai-len, mạng lưới chuyên gia người Việt được hình thành để kết nối nhà khoa học, doanh nhân và người làm chuyên môn với các chương trình phát triển của Việt Nam. Có thể tranh luận về hiệu quả, minh bạch hay tính đại diện của từng tổ chức, nhưng không thể gọi những hoạt động ấy là bằng chứng của “thâu tóm” nếu không chỉ ra hành vi kiểm soát cụ thể.

Ấn Độ và Phi-líp-pin cho thấy việc nhà nước chủ động kết nối hội đoàn ở nước ngoài không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Bộ Ngoại giao Ấn Độ công khai xây dựng mạng lưới cộng đồng để thúc đẩy thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học; duy trì chương trình tìm hiểu quê hương, học bổng và quỹ hỗ trợ người gặp khó khăn. Phi-líp-pin có cơ quan chuyên trách bảo vệ quyền lợi cộng đồng và tăng cường quan hệ với quê hương; hội nghị cộng đồng toàn cầu năm 2026 quy tụ khoảng ba trăm năm mươi đại biểu từ khoảng ba mươi quốc gia, bàn về mạng lưới, nguồn vốn, tri thức, thanh niên và văn hóa. So sánh này không có nghĩa nước khác làm thì Việt Nam đương nhiên đúng; nó chỉ bác bỏ tiền đề rằng cứ nhà nước kết nối, hỗ trợ hội đoàn là hội đoàn đã bị “thâu tóm”. Điều cần kiểm chứng vẫn là mức độ tự chủ, tài chính, nhân sự và việc tuân thủ pháp luật sở tại.

Từ đây có thể nhận diện một thủ pháp phổ biến trong luồng thông tin tiêu cực về Nghị quyết 23: biến khả năng lý thuyết thành sự kiện đã xảy ra. Bất kỳ khoản tài trợ nào cũng có thể bị lợi dụng; bất kỳ hội đoàn nào cũng có thể bị một nhóm lợi ích chi phối. Nhưng “có thể bị lợi dụng” hoàn toàn khác với “đang bị lợi dụng”; “có nguy cơ bị chi phối” khác với “đã bị thâu tóm”. Giữa hai vế ấy phải có bằng chứng. Bỏ qua bước chứng minh là thay điều tra bằng suy đoán.

Đáng chú ý, một số bài công kích còn để lộ động lực cạnh tranh quyền đại diện. Khi bài viết lo các hội doanh nhân, hội sinh viên, câu lạc bộ văn hóa hoặc tổ chức mới có thể thu hút đông người và “lấn dần không gian hoạt động” của các đoàn thể chống chính quyền, điều đó cho thấy tranh chấp không chỉ nằm ở nhân quyền hay an ninh. Nó còn là cạnh tranh thành viên, ảnh hưởng, nguồn lực và quyền nói thay cộng đồng. Trong một cộng đồng ngày càng trẻ và đa dạng, những tổ chức cũ tất nhiên phải đối mặt với các mạng lưới mới. Đó trước hết là quá trình xã hội học, không tự động là bằng chứng của “thâu tóm”.

Ở đây cũng cần nhìn nhận đúng động cơ truyền thông qua chính nội dung được công khai, thay vì suy đoán tâm lý cá nhân. Khi một bài viết tuyên bố cần ngăn các hội đoàn mới “lấn không gian” của những tổ chức đang hỗ trợ phong trào đối lập, lợi ích cạnh tranh đã được thể hiện khá rõ. Một hội doanh nhân thu hút thêm thành viên, một nhóm thanh niên tổ chức hoạt động văn hóa được đông người hưởng ứng, một mạng lưới trí thức tạo được ảnh hưởng mới đều có thể làm thay đổi tương quan tiếng nói trong cộng đồng. Việc những tổ chức từng giữ vị trí nổi bật cảm thấy bị cạnh tranh là điều có thể hiểu về mặt xã hội học. Nhưng cạnh tranh ảnh hưởng không thể được đổi tên thành bằng chứng của một chiến dịch “thâu tóm”.

Cũng cần nói rõ rằng Nghị quyết 23 không nên được bảo vệ bằng cách phủ nhận mọi nguy cơ. Chính sách hỗ trợ hội đoàn càng mở rộng thì yêu cầu minh bạch càng cao. Kinh phí nào được cấp, cho hoạt động gì, tiêu chí lựa chọn ra sao, cơ chế báo cáo thế nào cần được công khai phù hợp pháp luật. Hội đoàn phải tự quyết nhân sự theo điều lệ; thành viên tham gia trên cơ sở tự nguyện; quan hệ với cơ quan đại diện Việt Nam không được biến thành mệnh lệnh hành chính. Minh bạch những nguyên tắc ấy không làm yếu chính sách, mà giúp loại bỏ khoảng trống dễ bị diễn giải thành “kiểm soát”.

Đây cũng chính là phương diện nhân văn cần được đặt ở trung tâm khi đánh giá Nghị quyết 23. Chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ nhằm phát huy nguồn lực cho đất nước mà còn đặt mục tiêu bảo đảm địa vị pháp lý, an ninh, an toàn, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, hỗ trợ những trường hợp khó khăn, duy trì tiếng Việt, văn hóa và kết nối các thế hệ. Văn bản tiếp tục nhấn mạnh hòa hợp dân tộc, giải quyết những vấn đề do lịch sử để lại trên cơ sở pháp luật và đạo lý, khuyến khích gác lại định kiến để cùng hướng về tương lai.

Với một cộng đồng hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, việc hình thành nhiều loại hội đoàn là một nhu cầu tự nhiên. Có hội doanh nhân, hội sinh viên, mạng lưới chuyên gia, hội đồng hương, tổ chức văn hóa, nhóm thiện nguyện. Không một mô hình duy nhất có thể đại diện toàn bộ cộng đồng. Cũng không thể vì một hội đoàn giữ quan hệ tích cực với Việt Nam mà mặc nhiên coi hội ấy đã mất độc lập. Quyền tự do lập hội, quyền lựa chọn tham gia và quyền giữ quan hệ với quê hương đều cần được tôn trọng trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại.

Giá trị của Nghị quyết 23 vì vậy cần được đo bằng kết quả thực tế: cộng đồng có được bảo vệ tốt hơn khi gặp rủi ro hay không; trẻ em có thêm điều kiện học tiếng Việt hay không; người lao động có thêm kênh hỗ trợ pháp lý hay không; doanh nhân và chuyên gia có thêm cơ hội kết nối hay không; hội đoàn có thực sự đoàn kết, tự chủ và hội nhập với nước sở tại hay không. Đây mới là những tiêu chí phân biệt một chính sách cộng đồng với một cơ chế kiểm soát.

Vì vậy, trước thông tin khẳng định Nghị quyết 23 đang “thâu tóm hội đoàn”, điều cần nhất không phải một nhãn chính trị khác mà là chứng cứ. Hội nào bị thâu tóm? Ai ra lệnh cho ai? Nhân sự nào bị áp đặt? Khoản tiền nào đi kèm điều kiện kiểm soát? Điều lệ nào bị thay đổi? Hoạt động nào vi phạm pháp luật nước sở tại? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi ấy thì điều đang tồn tại mới chỉ là giả định.

Cảnh giác với nguy cơ lạm dụng chính sách là cần thiết. Nhưng biến mọi khả năng thành kết luận, mọi hỗ trợ thành mua chuộc, mọi kết nối thành kiểm soát và mọi hội đoàn thân thiện với quê hương thành “vệ tinh” lại chỉ làm gia tăng nghi kỵ trong cộng đồng. Người Việt ở nước ngoài cần nhiều không gian hợp tác hơn, không phải thêm những ranh giới ngờ vực. Đọc Nghị quyết 23 bằng chứng cứ thay vì giả định cũng chính là cách bảo vệ quyền tự chủ của hội đoàn, quyền lựa chọn của kiều bào và một môi trường tranh luận có trách nhiệm.

“Bơm tiền mua cộng đồng”: tiêu chuẩn kép khi đánh giá hỗ trợ hội đoàn

Một con số tiền, nếu bị tách khỏi mục đích và cơ chế sử dụng, rất dễ trở thành nguyên liệu cho một câu chuyện gây sốc. Tranh luận quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đang xuất hiện đúng kiểu dẫn dắt ấy. Một số bài viết sử dụng những cụm từ như “bơm tiền”, “mua chuộc”, “nuôi hội đoàn”, rồi suy ra rằng mọi khoản hỗ trợ của Nhà nước dành cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài đều nhằm thao túng hoặc kiểm soát hội đoàn. Cách diễn đạt này tạo ấn tượng mạnh, nhưng đánh tráo hai khái niệm khác nhau: tài trợ công cho hoạt động cộng đồng và hối lộ để mua sự phục tùng.


Một bài đăng trên Việt Tân đầu tháng 9-2026 là ví dụ rõ. Từ việc Nghị quyết 23 đề cập củng cố hội đoàn, hỗ trợ hoạt động cộng đồng và phát huy vai trò thế hệ trẻ, bài viết chuyển sang các khẳng định Nhà nước “bơm” tài chính, “mua chuộc” thành viên ban điều hành, dùng lợi ích kinh tế để “cài cắm nhân sự”, rồi suy diễn sang “mua chuộc truyền thông”. Bất kỳ khoản chi công nào cũng cần được giám sát, nhưng từ một khả năng cần kiểm chứng, bài viết đã nhảy sang kết luận về động cơ và hành vi mà không đưa ra quyết định cấp kinh phí, điều kiện tài trợ, chứng từ hay bằng chứng về sự đổi chác cụ thể.

Muốn gọi một khoản tiền là “mua chuộc”, tối thiểu phải chứng minh có sự trao đổi lợi ích nhằm khiến người nhận thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi trái nghĩa vụ, trái pháp luật hoặc phục vụ lợi ích riêng bị che giấu. Ngược lại, tài trợ công cho hội đoàn là công cụ chính sách bình thường nếu khoản chi có căn cứ ngân sách, mục tiêu công khai, đối tượng rõ ràng, tiêu chí xét chọn và cơ chế báo cáo, quyết toán, kiểm tra. Hai việc đều có yếu tố “tiền”, nhưng học bổng khác với mua điểm, trợ cấp xã hội khác với trả tiền để đổi lấy lá phiếu. Không thể chỉ nhìn thấy dòng tiền rồi bỏ qua mục đích và cơ chế pháp lý.

Đối chiếu với Nghị quyết 23 càng cho thấy khoảng cách giữa câu chữ gốc và cách diễn giải “bơm tiền mua cộng đồng”. Nghị quyết xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc; đặt yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của kiều bào, hỗ trợ hội nhập, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa, phát huy chuyên gia, trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ. Văn bản đồng thời yêu cầu củng cố hội đoàn theo hướng đoàn kết, tự chủ, tăng cường kết nối với nước sở tại và tuân thủ pháp luật sở tại. Bỏ toàn bộ bối cảnh ấy rồi chỉ giữ cụm “hỗ trợ nguồn lực” để đổi tên thành “mua chuộc” là cắt nghĩa theo định kiến.

Trong thực tế, hội đoàn người Việt có thể tổ chức lớp tiếng Việt, tư vấn thủ tục cư trú, hỗ trợ người lao động gặp khó khăn, kết nối sinh viên, giúp người cao tuổi, tổ chức hoạt động văn hóa, cứu trợ khi thiên tai hoặc biến cố, kết nối doanh nhân và chuyên gia. Nhiều hoạt động khó duy trì nếu chỉ dựa hoàn toàn vào đóng góp tự phát. Việc một Nhà nước dành nguồn lực cho cộng đồng của mình ở nước ngoài vì thế không phải dấu hiệu bất thường. Điều phải giám sát là tiền được chi cho mục tiêu gì, ai nhận, ai quyết định và có tuân thủ pháp luật hay không. Đó mới là ranh giới giữa hỗ trợ chính đáng và nguy cơ lạm dụng.

Kinh nghiệm Ai-len cho thấy tiêu chuẩn đánh giá cần nhất quán. Năm 2025, Chính phủ Ai-len công khai phân bổ 16,4 triệu đồng tiền chung châu Âu cho hơn 530 dự án dành cho cộng đồng người Ai-len trên thế giới. Khoản hỗ trợ phục vụ phúc lợi cho người dễ bị tổn thương, đồng thời tài trợ hoạt động văn hóa, di sản, thể thao, giáo dục và xây dựng mạng lưới. Từ khi chương trình được thiết lập năm 2004, Chính phủ Ai-len đã cấp hơn 265 triệu đồng tiền chung châu Âu cho gần 900 tổ chức tự nguyện tại 51 quốc gia. Nhiều danh sách tổ chức nhận tài trợ cùng mức tiền phân bổ được công bố công khai.

Nếu áp dụng cùng phép suy luận đang được dùng để công kích Việt Nam, người ta cũng có thể nói Ai-len “bơm tiền” cho hàng trăm tổ chức ở nước ngoài để “mua cộng đồng”. Nhưng cách gọi ấy làm méo bản chất của một chương trình trợ giúp công khai. Chính phủ Ai-len nêu rõ mục tiêu tăng cường quan hệ với cộng đồng ở nước ngoài, hỗ trợ người yếu thế, nuôi dưỡng văn hóa, di sản và củng cố liên kết với quê hương. Nếu khoản hỗ trợ của Ai-len được đánh giá qua mục tiêu, thủ tục và công khai ngân sách, thì hỗ trợ của Việt Nam cũng phải được xem xét bằng cùng bộ tiêu chí.

Thủ pháp đáng phê phán trong một số bài chống Nghị quyết 23 nằm ở việc biến từ ngữ đời thường thành kết luận đạo đức. “Hỗ trợ” được đổi thành “bơm tiền”; “tài trợ” thành “mua chuộc”; “kết nối” thành “lôi kéo”; “phát huy nguồn lực” thành “khống chế”. Khi chuỗi từ này được lặp lại, cảm xúc tiêu cực xuất hiện trước khi người đọc kịp hỏi: số tiền nào, quyết định nào, người nhận nào, điều kiện nào? Một hội đoàn nhận kinh phí tổ chức Tết cộng đồng nhưng vẫn có quyền nêu kiến nghị khác với cơ quan tài trợ. Một lớp tiếng Việt nhận sách giáo khoa không vì vậy mất quyền tự chủ. Muốn chứng minh mua chuộc phải chỉ ra điều kiện đổi chác cụ thể.

Chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng tạo ra những kết quả xã hội không thể bỏ qua. Các hội đoàn trong nhiều năm tham gia hỗ trợ bà con ổn định cuộc sống, hòa nhập xã hội sở tại, duy trì tiếng Việt và văn hóa, kết nối thiện nguyện, giao lưu nhân dân, doanh nghiệp và trí thức. Nghị quyết 23 tiếp tục đặt trọng tâm vào bảo hộ, hỗ trợ pháp lý, chăm lo người khó khăn, thế hệ trẻ, chuyên gia và doanh nhân; đồng thời nhấn mạnh hòa hợp dân tộc, gác lại định kiến và hướng tới tương lai. Có thể tranh luận về hiệu quả từng chương trình, nhưng không thể xóa toàn bộ chức năng xã hội ấy rồi chỉ mô tả hội đoàn như công cụ chính trị.

Phản bác tiêu chuẩn kép không có nghĩa Việt Nam nên hài lòng với mức minh bạch hiện tại. Ngược lại, chính những cáo buộc “bơm tiền”, “mua chuộc” cho thấy càng cần cơ chế công khai mạnh hơn. Các khoản hỗ trợ hội đoàn nếu sử dụng ngân sách nhà nước nên có tiêu chí xét chọn rõ ràng; công bố tổ chức thụ hưởng, mục tiêu, số tiền và kết quả; quy định nghĩa vụ báo cáo, kiểm tra, quyết toán; tôn trọng đầy đủ pháp luật về thuế, hội đoàn và tài trợ nước ngoài của nước sở tại. Minh bạch càng cao thì khoảng trống cho suy đoán càng nhỏ.

Cách tiếp cận ấy cũng phù hợp với tinh thần nhân quyền. Quyền của kiều bào không chỉ là quyền không bị can thiệp trái pháp luật; họ còn có quyền tiếp cận hỗ trợ văn hóa, giáo dục, thông tin, bảo hộ và tương trợ cộng đồng. Đồng thời, họ có quyền biết nguồn tiền của tổ chức mình tham gia và quyền từ chối mọi điều kiện chính trị mà họ không chấp nhận. Một chính sách nhân văn phải bảo đảm cả hai chiều: Nhà nước có thể hỗ trợ, nhưng người dân phải được tự nguyện và hội đoàn phải được tự chủ.

Vì vậy, trước mỗi cáo buộc “bơm tiền mua cộng đồng”, cách kiểm chứng tốt nhất là hỏi bốn điều: khoản tiền nào, nguồn ngân sách nào, mục tiêu nào, điều kiện nào. Nếu tiền được cấp công khai cho lớp tiếng Việt, trợ giúp người khó khăn, hoạt động văn hóa, giáo dục hoặc kết nối cộng đồng và được quyết toán theo quy định, đó là tài trợ công. Nếu có chứng cứ tiền được đưa bí mật để đổi lấy hành vi trái nghĩa vụ hoặc trái pháp luật, khi đó mới có cơ sở nói tới mua chuộc. Không thể thay bước chứng minh ấy bằng những từ ngữ gây cảm xúc.

Không nên dùng hai bộ tiêu chuẩn cho cùng một hành vi. Không thể gọi 16,4 triệu đồng tiền chung châu Âu của Ai-len là “hỗ trợ cộng đồng”, nhưng khi Việt Nam dành nguồn lực cho hội đoàn lại mặc nhiên đổi tên thành “mua cộng đồng”. Việt Nam cũng không nên chỉ yêu cầu người khác công bằng mà phải chủ động làm điều khiến sự công bằng dễ kiểm chứng nhất: công khai hơn, minh bạch hơn và để dữ liệu lên tiếng. Khi chứng cứ thay thế định kiến, những chữ “bơm tiền” sẽ trở về đúng vị trí của nó: một cách diễn đạt chính trị, không phải một kết luận đã được chứng minh.


Sáu triệu rưỡi người Việt ở nước ngoài không thể chỉ có một tiếng nói

Một cộng đồng gồm hơn 6,5 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, hình thành qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều làn sóng di cư, nhiều thế hệ và hoàn cảnh xã hội khác nhau, liệu có thể được đại diện bằng tiếng nói của một vài tổ chức chính trị? Câu trả lời tưởng như hiển nhiên nhưng lại chính là điểm bị làm mờ trong không ít bài viết công kích Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Một số bài không chỉ phê phán chính sách mà còn mặc nhiên lấy lập trường của một bộ phận người Việt có quan điểm đối lập với Nhà nước làm lập trường của “cộng đồng người Việt hải ngoại”, rồi từ đó mô tả mọi nỗ lực kết nối thế hệ trẻ, chuyên gia, doanh nhân, sinh viên hay những hội đoàn mới như hành động “xâm nhập”, “thay máu” hoặc “phá vỡ cộng đồng”. Sai lệch trước hết nằm ngay ở tiền đề: không một nhóm nào có quyền biến mình thành đại diện mặc định cho hàng triệu con người khác nhau.

Có thể thấy rất rõ kiểu lập luận này trong một số bài phản đối Nghị quyết 23 xuất hiện gần đây. Có bài tuyên bố Nghị quyết “nhắm trực tiếp vào cộng đồng người Việt tự do tại hải ngoại”, sau đó mô tả việc Việt Nam quan tâm tới thế hệ thứ hai, thứ ba là chiến lược làm “phai loãng căn tính tị nạn”, “thay máu” cộng đồng và triệt tiêu vai trò hậu phương của các lực lượng đối lập trong nước. Một số bài khác còn viết dưới danh nghĩa “cộng đồng người Việt quốc gia tị nạn tại hải ngoại”, từ đó coi việc tổ chức các chương trình về nguồn, giáo dục lịch sử, văn hóa hay kết nối thanh niên với quê hương là âm mưu “uốn nắn tư duy”.

Điều đáng chú ý là ở đây đã diễn ra một bước đánh tráo chủ thể. “Một bộ phận cộng đồng” được đổi thành “cộng đồng”. “Một nhóm có căn tính chính trị hình thành từ một giai đoạn lịch sử” được nâng thành “người Việt hải ngoại”. Sau bước chuyển ấy, bất cứ thế hệ trẻ nào không tiếp tục nguyên vẹn quan điểm chính trị của thế hệ đi trước đều có thể bị mô tả như đối tượng “bị lung lạc”.

Nhưng người Việt Nam ở nước ngoài chưa bao giờ là một khối đồng nhất như vậy.

Có những người rời Việt Nam trước năm 1975. Có cộng đồng hình thành sau năm 1975 từ những biến động lịch sử đặc biệt. Có những người sang Đông Âu học tập, lao động rồi ở lại. Có những gia đình di cư theo diện đoàn tụ. Có hàng trăm nghìn sinh viên, nghiên cứu sinh, chuyên gia, lao động kỹ thuật, doanh nhân và người làm việc tại nước ngoài trong những thập niên gần đây. Có những người mới định cư được vài năm, cũng có những gia đình đã trải qua hai, ba hoặc bốn thế hệ ở nước sở tại.

Chỉ riêng khác biệt về thời điểm di cư đã tạo ra những trải nghiệm xã hội khác nhau. Người rời Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh có ký ức khác người sinh vào những năm hòa bình. Người trưởng thành ở Việt Nam rồi ra nước ngoài làm việc có quan hệ với quê hương khác một thanh niên sinh tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức hay Ô-xtrây-li-a. Người trẻ thế hệ thứ ba thậm chí có thể sử dụng tiếng Việt không thành thạo nhưng vẫn quan tâm tới ẩm thực, lịch sử gia đình, du lịch, âm nhạc hay nguồn gốc dân tộc.

Đó là thực tế xã hội học, không phải vấn đề trung thành chính trị.

Nghị quyết 23 nhìn nhận chính sự thay đổi ấy khi xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trẻ hóa, tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng. Văn bản dành riêng nhiều nội dung cho thế hệ trẻ, từ giữ gìn tiếng Việt, tìm hiểu văn hóa, lịch sử, tham gia hoạt động trải nghiệm, về nguồn đến khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và giao lưu nhân dân. Đồng thời, Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai và tôn trọng những khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc.

Nếu nhìn đầy đủ, đây là sự điều chỉnh chính sách trước một cộng đồng đang thay đổi về cơ cấu thế hệ, chứ không phải bằng chứng cho kế hoạch “xóa căn tính” của ai đó.

Một thanh niên sinh ra ở nước ngoài có quyền tìm hiểu lịch sử của gia đình mình. Nhưng người đó cũng có quyền tự mình tiếp xúc với Việt Nam hiện tại, học tiếng Việt, về quê cha mẹ, hợp tác kinh doanh hoặc giữ quan hệ văn hóa theo lựa chọn cá nhân. Không tổ chức nào có quyền tuyên bố rằng nếu người trẻ lựa chọn cách nhìn khác thế hệ ông bà thì họ đã “bị tẩy não”. Cách lập luận ấy, nghịch lý thay, lại phủ nhận chính quyền tự do suy nghĩ mà những người đưa ra nó thường nhân danh.

Đặc biệt, cần nhìn thẳng vào vấn đề quyền đại diện. Khi một bài viết nói Nghị quyết 23 nhằm “vô hiệu hóa cộng đồng người Việt hải ngoại”, câu hỏi đầu tiên phải là: “cộng đồng” nào? Hơn 6,5 triệu người đã ủy quyền cho ai phát biểu như vậy? Hội doanh nhân tại châu Âu có đồng quan điểm với một tổ chức chính trị tại Hoa Kỳ không? Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản có cùng ký ức lịch sử với những người rời Việt Nam nửa thế kỷ trước không? Những người Việt thế hệ thứ hai ở Pháp, Đức hay Séc có nhất thiết phải coi mình thuộc một phong trào chính trị tồn tại trước khi họ sinh ra không?

Không có cơ sở nào cho một câu trả lời đồng nhất.

Chính một bài công kích Nghị quyết 23 đã bộc lộ khá rõ sự cạnh tranh về quyền đại diện khi lo ngại những hội doanh nhân, hội sinh viên, câu lạc bộ văn hóa hoặc tổ chức mới có thể thu hút đông đảo người Việt và “lấn dần không gian hoạt động” của các đoàn thể vốn ủng hộ phong trào đối lập. Câu chữ này rất đáng chú ý bởi nó cho thấy xung đột không chỉ là câu chuyện nhân quyền. Phía sau còn có vấn đề xã hội học quen thuộc: cạnh tranh thành viên, ảnh hưởng, nguồn lực và quyền được coi là tiếng nói tiêu biểu của cộng đồng.

Khi một cộng đồng thay đổi thế hệ, những thiết chế đại diện cũ cũng đứng trước thách thức thích nghi. Người trẻ có thể ít quan tâm hơn tới những chia rẽ của năm 1975 nhưng quan tâm nhiều hơn tới cơ hội học tập, kinh doanh, khoa học, công nghệ, văn hóa, du lịch hoặc biến đổi khí hậu. Họ có thể vừa tự hào là công dân nước mình sinh sống, vừa giữ tình cảm với nguồn gốc Việt Nam. Không nên ép sự phức tạp ấy vào lựa chọn nhị phân “ủng hộ” hoặc “chống đối”.

Kinh nghiệm của Ai-len cho thấy cách nhìn rộng hơn về cộng đồng ở nước ngoài. Chiến lược giai đoạn 2026-2030 của nước này sử dụng một khái niệm rất rộng và bao trùm: không chỉ công dân sinh tại Ai-len sống ở nước ngoài mà còn bao gồm người sinh ở nước ngoài có nguồn gốc Ai-len và những người duy trì sự gắn bó đặc biệt với đất nước. Chính phủ Ai-len công khai thừa nhận trải nghiệm di cư có nhiều tầng lớp, nhiều thời kỳ và khác biệt lớn giữa các thế hệ.

Đáng chú ý hơn, Ai-len xác định việc hỗ trợ các thế hệ trẻ duy trì kết nối với di sản là một nhiệm vụ chính sách. Nhà nước hỗ trợ hàng trăm tổ chức cộng đồng trên thế giới, tài trợ những hoạt động về văn hóa, ngôn ngữ, thể thao và phúc lợi, đồng thời tổ chức các diễn đàn để nhiều nhóm người Ai-len ở nước ngoài cùng trình bày quan điểm. Năm 2026, diễn đàn toàn cầu của người Ai-len quy tụ khoảng 250 đại diện từ 21 quốc gia. Không phải một tổ chức được mặc nhiên trao quyền nói thay hàng chục triệu người có nguồn gốc Ai-len.

Phi-líp-pin cũng nhìn cộng đồng của mình theo hướng ngày càng rộng. Chính sách nước này không chỉ quan tâm những lao động đang tạm thời ở nước ngoài mà còn tính đến hơn sáu triệu người Phi-líp-pin đã định cư lâu dài tại các quốc gia khác. Hội nghị cộng đồng toàn cầu năm 2026 quy tụ khoảng 350 đại diện từ khoảng 30 quốc gia, bao gồm lãnh đạo cộng đồng, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo không gian để nhiều nhóm cùng tham gia vào quan hệ giữa cộng đồng toàn cầu với quê hương.

Những trường hợp ấy cho thấy một xu hướng chung: khi cộng đồng di cư bước sang thế hệ thứ hai, thứ ba, chính sách của quốc gia nguồn phải mở rộng, chứ không thể chỉ tiếp xúc với lớp di dân ban đầu. Giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa, mạng lưới xã hội và quan hệ gia đình là nhu cầu chính đáng của nhiều cộng đồng trên thế giới.

Do đó, việc Nghị quyết 23 đặc biệt quan tâm thế hệ trẻ không phải tự thân là bằng chứng về một chiến dịch chính trị. Điều cần xem xét là cách thực hiện có tự nguyện, minh bạch và tôn trọng quyền lựa chọn hay không. Một chương trình về nguồn công khai, thanh niên tự nguyện đăng ký, nội dung minh bạch khác về bản chất với hoạt động ép buộc hoặc tuyên truyền bí mật. Muốn phê phán phải dựa vào từng hành vi thực tế, không thể lấy sự tồn tại của chương trình làm bằng chứng cho ý đồ chưa được chứng minh.

Tương tự, không nên lý tưởng hóa chính sách của Nhà nước. Việc triển khai Nghị quyết 23 càng hướng tới thế hệ trẻ càng cần tránh áp đặt một khuôn mẫu căn tính duy nhất. Thanh niên gốc Việt có quyền tiếp nhận nhiều cách nhìn về lịch sử. Các chương trình văn hóa phải tôn trọng môi trường pháp luật, giáo dục và xã hội của nước sở tại. Hội đoàn cần tự chủ. Tài trợ cần minh bạch. Đó là những yêu cầu hợp lý và cũng là cách tốt nhất để chủ trương hòa hợp có sức thuyết phục.

Nhưng yêu cầu minh bạch hoàn toàn khác với việc phủ định quyền của thế hệ trẻ được kết nối với Việt Nam. Người sinh ở nước ngoài không phải “tài sản chính trị” của thế hệ đi trước. Họ không có nghĩa vụ kế thừa nguyên vẹn những xung đột đã tồn tại nửa thế kỷ. Việc một thanh niên gốc Việt về Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay quê cha mẹ tìm hiểu đất nước không phải hành động phản bội cộng đồng nào.

Ở chiều ngược lại, một người trẻ lựa chọn giữ quan điểm phê phán Nhà nước Việt Nam cũng phải được tôn trọng. Hòa hợp không có nghĩa mọi người phải nghĩ giống nhau. Giá trị nhân văn của chính sách chỉ được chứng minh khi khác biệt có thể tồn tại mà không biến thành lý do loại trừ con người.

Đây chính là điều những lập luận độc quyền đại diện thường bỏ qua. Khi một tổ chức tự xưng nói thay “người Việt hải ngoại”, họ vô tình tước đi tiếng nói của hàng triệu người không thuộc tổ chức ấy. Khi họ mặc định “căn tính người Việt hải ngoại” phải gắn với một lập trường chính trị cụ thể, họ cũng loại khỏi khái niệm cộng đồng những doanh nhân, trí thức, sinh viên, lao động mới, gia đình đa văn hóa và thế hệ trẻ có trải nghiệm hoàn toàn khác.

Không nên thay một sự độc quyền đại diện bằng một sự độc quyền khác. Nhà nước Việt Nam cũng không nên coi một vài hội đoàn thân thiện là đại diện cho toàn bộ kiều bào. Các tổ chức đối lập càng không thể tự nhận mình là tiếng nói duy nhất của cộng đồng. Sáu triệu rưỡi con người phải có quyền tồn tại với sáu triệu rưỡi trải nghiệm khác nhau.

Nghị quyết 23 chỉ có thể phát huy giá trị nếu biến tinh thần ấy thành thực tiễn: chăm lo người khó khăn, bảo hộ quyền lợi chính đáng, hỗ trợ hội nhập, gìn giữ tiếng Việt, kết nối chuyên gia và doanh nhân, tạo cơ hội cho thế hệ trẻ, đồng thời thực chất hóa hòa hợp dân tộc. Không phải kéo mọi người vào cùng một hàng ngũ, mà tạo một không gian rộng hơn để nhiều thế hệ cùng tìm thấy mối liên hệ với quê hương theo cách của mình.

Vì vậy, trước những bài viết nhân danh “cộng đồng người Việt hải ngoại” để kết luận rằng toàn bộ cộng đồng chống Nghị quyết 23, câu hỏi đơn giản nhất cần được đặt ra: ai đã trao quyền đại diện ấy?

Một tổ chức có thể đại diện thành viên của mình. Một hội đoàn có thể nói lên quan điểm của hội viên. Một thế hệ có quyền kể lại trải nghiệm lịch sử của thế hệ mình. Nhưng không ai có quyền biến trải nghiệm riêng thành căn tính bắt buộc của hơn 6,5 triệu người.

Khác biệt thế hệ không phải mối đe dọa. Đó là quy luật bình thường của một cộng đồng đang phát triển. Biến sự khác biệt ấy thành cuộc chiến chính trị mới chính là cách kéo những chia rẽ của quá khứ sang tương lai. Còn hòa hợp thực sự bắt đầu từ việc thừa nhận một điều rất giản dị: người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng đa dạng, và sự đa dạng ấy lớn hơn bất kỳ tổ chức, phe nhóm hay nhãn chính trị nào.

Khi “kết nối kiều bào” bị đổi nghĩa thành “kiểm soát”: chứng cứ nằm ở đâu?

Có một nghịch lý đáng suy nghĩ trong tranh luận quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: càng nhấn mạnh kết nối, một số bài viết càng diễn giải thành kiểm soát; càng nói đồng hành, họ càng suy thành điều khiển. Cách diễn giải ấy tạo cảm giác mạnh, nhưng bỏ qua câu hỏi quan trọng nhất: quyền tự chủ của kiều bào có thực sự bị tước bỏ hay không? Nếu không chứng minh được yếu tố cưỡng ép, chỉ đạo bắt buộc, giám sát trái pháp luật hoặc hạn chế quyền từ chối, thì “kết nối” và “kiểm soát” không thể bị đánh đồng.

Luồng dư luận tiêu cực đầu tiên thể hiện qua những bài mô tả Nghị quyết 23 như kế hoạch “khống chế”, “kiểm soát nguồn lực, kiều hối và nhân lực” của người Việt ở nước ngoài. Một thư mời hội luận đầu tháng 9-2026 xác định mục tiêu ngăn chặn những thủ đoạn bị cho là núp dưới các khẩu hiệu hòa hợp, đại đoàn kết và bảo tồn tiếng Việt. Một bản lên tiếng khác của một số tổ chức người Mỹ gốc Việt nhấn mạnh rằng không chính quyền nước ngoài nào có quyền tự ý huy động, chỉ đạo, giám sát hoặc áp đặt nghĩa vụ chính trị đối với họ. Quyền tự quyết ấy là chính đáng, nhưng không thể từ đó suy ngay rằng Nghị quyết 23 đã thiết lập cơ chế cưỡng ép nếu chưa có bằng chứng về hành vi cụ thể. (Nhân Quyền⁠)

Luồng thứ hai tinh vi hơn: lấy các từ “huy động nguồn lực”, “bồi dưỡng”, “phát huy vai trò”, “thông tin, tuyên truyền” rồi đặt chúng vào trường nghĩa quản thúc. Một bài của Việt Tân mô tả Nghị quyết 23 như văn bản nhắm vào cộng đồng người Việt có lập trường đối lập ở nước ngoài và gắn việc củng cố hội đoàn với nguy cơ phân hóa cộng đồng. Sự dịch chuyển ý nghĩa diễn ra từng bước: “kết nối” thành “tập hợp”; “tập hợp” thành “huy động”; “huy động” thành “điều khiển”. Mức độ cáo buộc tăng lên nhưng chứng cứ không tăng theo. (Việt Tân⁠)

Đọc nguyên văn Nghị quyết 23 cho thấy một bức tranh khác. Văn bản xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, là nguồn lực quan trọng và cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Đồng thời, Đảng và Nhà nước nhận trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng; chủ trương chuyển từ tư duy “vận động, tập hợp” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế”. Nghị quyết cũng yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phù hợp pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Đối với hội đoàn, văn bản nêu rõ hướng đoàn kết, tự chủ, tăng cường kết nối với cả nước sở tại và trong nước. 

Chính hai chữ “tự chủ” là ranh giới cần đặt ở trung tâm. Một chính sách kết nối chỉ trở thành kiểm soát khi người tham gia không còn quyền tự quyết. Có thể nhận diện bằng năm tiêu chí: tham gia tự nguyện; tổ chức tự chủ về điều lệ và nhân sự; cá nhân có quyền từ chối; tài chính minh bạch; mọi hoạt động tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nếu các điều kiện ấy được bảo đảm, quan hệ giữa Nhà nước với kiều bào là hỗ trợ và hợp tác. Nếu bị phá vỡ bằng cưỡng ép hoặc ràng buộc trái pháp luật, khi đó mới có cơ sở nói đến nguy cơ chi phối.

Nghị quyết 23 cũng không chỉ coi kiều bào là đối tượng vận động. Văn bản khuyến khích chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ đóng góp ý kiến, tham gia các chương trình kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Văn bản còn dùng khái niệm “vai trò chủ thể” đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin, khác với hình ảnh một cộng đồng chỉ biết nhận mệnh lệnh. 

Thực tế cho thấy việc coi hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ như những con người dễ dàng bị “điều khiển” là giản lược. Cộng đồng ấy gồm công dân nước ngoài, thường trú nhân, chuyên gia, doanh nhân, sinh viên, lao động và nhiều thế hệ sinh ra ở nước sở tại. Họ có thể đồng ý với chính sách này nhưng phản đối chính sách khác. Tôn trọng kiều bào trước hết phải tôn trọng khả năng tự lựa chọn ấy. 

So sánh quốc tế cho thấy kết nối cộng đồng ở nước ngoài là hoạt động chính sách bình thường. Liên minh châu Âu có cơ chế hỗ trợ hợp tác giữa cộng đồng di cư, quốc gia xuất xứ và các chủ thể phát triển. Cơ chế này coi người di cư và con cháu của họ, khi vẫn duy trì liên hệ với quê hương, là những tác nhân có thể đóng góp cho phát triển. (International Partnerships⁠)

Ai-len có chiến lược giai đoạn 2026-2030, được xây dựng sau quá trình tham vấn rộng với cộng đồng ở nước ngoài, trong đó khảo sát trực tuyến nhận khoảng mười nghìn phản hồi. Chính phủ đặt mục tiêu hỗ trợ người dễ bị tổn thương, duy trì văn hóa, bản sắc, tăng cường mạng lưới và làm sâu sắc quan hệ xã hội, văn hóa, kinh tế với quê hương. Diễn đàn cộng đồng toàn cầu năm 2026 quy tụ khoảng 250 đại diện từ 21 quốc gia. 

Ấn Độ cũng có hệ thống chương trình kết nối người Ấn ở nước ngoài: chương trình tìm hiểu quê hương dành cho thanh niên, học bổng, quỹ phúc lợi, hỗ trợ pháp lý, hội nghị cộng đồng và các mạng lưới thúc đẩy thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học. Bộ Ngoại giao Ấn Độ công khai mục tiêu xây dựng mạng lưới và quan hệ đối tác giữa cộng đồng với đất nước. Chương trình dành cho thanh niên gốc Ấn từ 21 đến 35 tuổi còn được Nhà nước hỗ trợ phần lớn chi phí đi lại và tiếp đón. 

So sánh này không có nghĩa nước khác làm thì Việt Nam mặc nhiên đúng; nó chỉ cho thấy tiêu chuẩn đánh giá phải nhất quán. Một chương trình kết nối cần được xem xét bằng tính tự nguyện, mức độ tự chủ, minh bạch và pháp luật. Nếu Ai-len tham vấn kiều dân được gọi là kết nối, Ấn Độ xây dựng mạng lưới được gọi là hợp tác, Liên minh châu Âu hỗ trợ gắn kết được coi là phát triển, thì không thể chỉ vì Việt Nam dùng những từ “kết nối” và “phát huy nguồn lực” mà mặc nhiên kết luận đó là kiểm soát.

Nghị quyết 23 sẽ thuyết phục hơn nếu Việt Nam tiếp tục thể chế hóa rõ các bảo đảm về tự chủ. Các chương trình dành cho kiều bào nên công khai điều kiện tham gia; hội đoàn nhận hỗ trợ cần minh bạch nguồn kinh phí; cơ quan đại diện phải tôn trọng điều lệ và pháp luật nước sở tại; không nên đồng nhất lòng yêu quê hương với sự ủng hộ tuyệt đối cho mọi chính sách. Người Việt ở nước ngoài cần được quyền nói “có” và cũng được quyền nói “không”; đó mới là thước đo đáng tin cậy của một chính sách nhân văn.

Điều cần phê phán trong một số chiến dịch chống Nghị quyết 23 không phải việc họ nêu câu hỏi về quyền tự chủ. Câu hỏi đó chính đáng. Vấn đề là khi câu hỏi bị biến thành kết luận từ trước: có kết nối tức là có kiểm soát; có hỗ trợ tức là có mua chuộc; có vận động tức là có cưỡng ép. Đây là phép suy luận bỏ qua năng lực tự quyết của chính những người mà các bài viết nói rằng họ đang bảo vệ.

Nhìn kiều bào như những con người dễ bị “điều khiển” cũng là cách hạ thấp chủ thể. Một chuyên gia có thể tư vấn cho Việt Nam vì thấy dự án có ích. Một doanh nhân có thể đầu tư vì lợi ích kinh tế. Một thanh niên có thể về nguồn vì muốn hiểu quê cha mẹ. Một hội đoàn có thể hợp tác với cơ quan đại diện trong cứu trợ nhưng vẫn giữ quan điểm độc lập về vấn đề khác.

Ranh giới cuối cùng rất rõ: kết nối tôn trọng quyền lựa chọn; kiểm soát tước quyền lựa chọn. Hợp tác dựa trên đồng thuận; cưỡng ép dựa trên mệnh lệnh và chế tài. Muốn chứng minh Nghị quyết 23 là công cụ kiểm soát, phải chỉ ra nơi nào quyền từ chối bị xóa bỏ, hội đoàn nào mất tự chủ, ai bị buộc thực hiện nghĩa vụ chính trị trái ý chí, khoản tiền nào gắn với điều kiện bất hợp pháp. Khi chưa có những chứng cứ ấy, biến chữ “kết nối” thành “kiểm soát” chỉ là một phép đổi nhãn.

Một chính sách tốt không nên sợ kiểm chứng. Hãy kiểm tra Nghị quyết 23 bằng mức độ bảo vệ quyền lợi kiều bào, khả năng giúp cộng đồng hội nhập, sự minh bạch của hỗ trợ, quyền tự chủ của hội đoàn và việc người Việt ở nước ngoài có thực sự được lắng nghe hay không. Hơn 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài là những chủ thể có năng lực, quyền lợi và lựa chọn riêng, không phải những quân cờ thụ động. Tôn trọng điều đó mới là nền tảng đúng đắn nhất để phân biệt kết nối với kiểm soát.


Hội đoàn người Việt: “tổ chức vệ tinh” hay thiết chế cộng đồng bình thường?

Một hội sinh viên tổ chức Tết cộng đồng, một hội doanh nhân kết nối đầu tư, một câu lạc bộ dạy tiếng Việt cho trẻ em, một tổ chức thiện nguyện hỗ trợ người mới định cư — từ bao giờ những hoạt động quen thuộc ấy có thể được gom lại dưới một nhãn duy nhất là “tổ chức vệ tinh”? Đây là câu hỏi đáng đặt ra khi theo dõi luồng thông tin tiêu cực quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Từ chủ trương củng cố hội đoàn, hỗ trợ cộng đồng và phát huy thế hệ trẻ, một số bài viết đã suy diễn thành chiến lược “lập hội đoàn thân chính quyền”, “chiếm không gian cộng đồng”, “thay máu hội đoàn”, thậm chí “cài cắm lực lượng”. Vấn đề không nằm ở quyền nghi ngờ hay phản biện. Vấn đề nằm ở chỗ một cáo buộc nghiêm trọng về tổ chức bình phong phải được chứng minh bằng cấu trúc kiểm soát và hành vi cụ thể, chứ không thể chỉ bằng thái độ chính trị của người viết.

Một trong những bài công kích Nghị quyết 23 được đăng lại đầu tháng 9-2026 mô tả việc hỗ trợ các hội đoàn, hội doanh nhân, hội sinh viên, câu lạc bộ văn hóa như cách tạo ra các tổ chức “trá hình”, dùng kinh phí để tổ chức sự kiện lớn, thu hút cộng đồng và “lấn dần không gian hoạt động” của những tổ chức người Việt có lập trường đối lập với Nhà nước Việt Nam. Bài này còn suy diễn việc hỗ trợ nguồn lực thành “bơm tài chính”, từ đó chuyển sang cáo buộc “mua chuộc”, “cài cắm nhân sự” và làm suy yếu các hội đoàn truyền thống. (Việt Tân⁠) Một bài khác đặt vấn đề dưới dạng câu hỏi về những “hội đoàn vệ tinh”, nhưng đồng thời cũng thừa nhận rằng các cáo buộc dựng hội đoàn, cài người hay tài trợ để thao túng là những nhận định nghiêm trọng, cần bằng chứng độc lập trước khi kết luận. (Thời báo⁠)

Chính điểm đó phải được coi là ranh giới của tranh luận có trách nhiệm. Trong nghiên cứu tổ chức, không thể xác định một hội đoàn là “bình phong” chỉ vì tổ chức ấy nhận tài trợ, có quan hệ với một cơ quan nhà nước hoặc có quan điểm tích cực với quê hương. Muốn chứng minh sự kiểm soát thực chất phải xem ít nhất năm nhóm dữ kiện: ai sở hữu hoặc có quyền quyết định đối với tổ chức; điều lệ trao quyền cho ai; nguồn tài chính đến từ đâu và kèm điều kiện gì; nhân sự lãnh đạo được bầu chọn hay chỉ định; nhiệm vụ thực tế do hội tự quyết hay nhận mệnh lệnh từ một chủ thể khác. Nếu không có dữ liệu về những yếu tố này, việc gọi một hội đoàn là “vệ tinh” mới chỉ là phán đoán chính trị.

Nghị quyết 23, xét ở câu chữ công khai, không yêu cầu xây dựng một hệ thống hội đoàn bí mật. Văn bản chủ trương mở rộng, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đoàn, mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài “theo hướng đoàn kết, tự chủ”, tăng cường kết nối với nước sở tại và trong nước. Nghị quyết cũng nhấn mạnh hỗ trợ cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng, giữ gìn bản sắc văn hóa, phát hiện và bồi dưỡng thế hệ trẻ, hỗ trợ những trường hợp khó khăn, tăng cường bảo hộ công dân và tư vấn pháp lý. Nếu bỏ hai chữ “tự chủ”, bỏ yêu cầu hòa nhập nước sở tại và chỉ giữ riêng nội dung hỗ trợ hội đoàn để dựng lên hình ảnh một hệ thống bị điều khiển từ bên ngoài, đó là cách đọc thiếu toàn diện.

Thực tế, hội đoàn người Việt tồn tại trước hết bởi những nhu cầu rất đời thường. Người mới sang nước ngoài cần thông tin pháp lý, việc làm, nhà ở, trường học. Người cao tuổi cần nơi giao lưu và hỗ trợ. Trẻ em sinh ra ở nước ngoài cần môi trường học tiếng Việt, tìm hiểu nguồn cội. Doanh nhân cần mạng lưới kết nối. Sinh viên cần hỗ trợ học tập. Khi thiên tai, dịch bệnh hoặc biến cố xảy ra, những hội đoàn cộng đồng thường là nơi huy động cứu trợ nhanh nhất. Hội đoàn còn tổ chức Tết, giỗ Tổ, các hoạt động văn hóa, thể thao, giáo dục và thiện nguyện. Đó là những chức năng xã hội bình thường của cộng đồng nhập cư ở hầu hết các quốc gia.

Nghị quyết 23 cũng không chỉ nói đến việc “huy động” người Việt ở nước ngoài, mà dành nội dung đáng kể cho quyền lợi của chính cộng đồng. Văn bản nhìn nhận hơn 6,5 triệu người Việt đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt yêu cầu phối hợp với chính quyền sở tại nhằm bảo đảm an ninh, an toàn, địa vị pháp lý, khả năng hòa nhập và quyền lợi chính đáng; đồng thời đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, lắng nghe cả những quan điểm khác biệt nếu không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đánh giá chính sách phải bao gồm đầy đủ những nội dung ấy, không thể chỉ trích một vài câu về tổ chức hội đoàn rồi quy kết toàn bộ nghị quyết là kế hoạch kiểm soát cộng đồng.

So sánh với Ai-len càng cho thấy việc Nhà nước hỗ trợ hội đoàn ở nước ngoài không phải dấu hiệu tự động của một “tổ chức vệ tinh”. Chiến lược đối với người Ai-len ở nước ngoài giai đoạn 2026-2030 xác định rõ mục tiêu tăng cường quan hệ giữa đất nước với cộng đồng trên toàn thế giới, hỗ trợ các tổ chức và mạng lưới bền vững, gìn giữ văn hóa, giúp đỡ người dễ bị tổn thương và tăng cường sự tham gia của thế hệ trẻ. (Ireland API⁠) Chính phủ Ai-len còn vận hành một chương trình tài trợ trực tiếp cho các tổ chức cộng đồng ở nước ngoài. Từ năm 2004 đến nay, chương trình này đã hỗ trợ hơn 900 tổ chức tại hơn 50 quốc gia với tổng số tiền trên 265 triệu đồng tiền chung châu Âu; riêng giai đoạn 2026-2027, mức phân bổ đạt 17,5 triệu. Nếu cứ có ngân sách nhà nước hỗ trợ hội đoàn là “mua chuộc” hay “xây vệ tinh”, thì logic ấy sẽ buộc người ta phải gắn cùng một nhãn cho hàng trăm hội đoàn Ai-len trên thế giới.

Ấn Độ cũng xây dựng cả một hệ thống chính sách kết nối người gốc Ấn và công dân Ấn Độ ở nước ngoài. Bộ Ngoại giao nước này công khai các chương trình dành cho cộng đồng gồm hỗ trợ phúc lợi, giáo dục con em, kết nối sinh viên, hỗ trợ pháp lý và tài chính, chương trình tìm hiểu quê hương, hội nghị cộng đồng, quỹ hỗ trợ và mạng lưới tổ chức được cơ quan đại diện ngoại giao đăng ký. Cơ quan phụ trách người Ấn ở nước ngoài thậm chí xác định rõ nhiệm vụ phát triển mạng lưới trong cộng đồng nhằm xây dựng quan hệ đối tác về thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học và công nghệ. Những hoạt động ấy được xem là chính sách cộng đồng và phát triển, không mặc nhiên là hoạt động bí mật.

Phi-líp-pin còn công khai hơn về vai trò của hội đoàn và lãnh đạo cộng đồng. Năm 2026, nước này tổ chức hội nghị quy tụ khoảng 350 đại diện người Phi-líp-pin ở nước ngoài, quan chức, doanh nghiệp và tổ chức xã hội từ khoảng 30 quốc gia để bàn việc phát huy mạng lưới, chuyên môn và vai trò của cộng đồng đối với các mục tiêu văn hóa, kinh tế và phát triển quốc gia. (Summit CFO⁠) Chính phủ Phi-líp-pin còn có hệ thống khen thưởng những cá nhân, hội, nhóm và tổ chức ở nước ngoài có đóng góp cho cộng đồng, bảo vệ quyền lợi người Phi-líp-pin và hỗ trợ phát triển đất nước. 

Những so sánh ấy không có nghĩa mọi chính sách của Việt Nam đương nhiên đúng chỉ vì nước khác cũng làm. Giá trị của so sánh nằm ở chỗ nó bác bỏ một suy luận giản đơn: nhà nước hỗ trợ hội đoàn bằng với lập tổ chức bình phong. Muốn đi xa hơn phải có bằng chứng cụ thể về quyền kiểm soát, mệnh lệnh, nguồn tài chính có điều kiện, nhân sự bị chi phối hoặc hoạt động bí mật. Không thể thay bằng chứng bằng nhãn dán.

Cũng cần nhìn một khía cạnh ít được nói tới: cạnh tranh quyền đại diện trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Một cộng đồng hình thành qua nhiều làn sóng di cư, nhiều thế hệ, nhiều khác biệt chính trị và xã hội tất nhiên sẽ có nhiều tổ chức cùng tồn tại. Những hội đoàn hình thành từ thập niên trước có thể xem mình là tiếng nói truyền thống. Trong khi đó, hội doanh nhân, hội chuyên gia, hội sinh viên, câu lạc bộ văn hóa hay tổ chức của thế hệ trẻ mới xuất hiện sẽ thu hút những nhóm thành viên khác. Khi một tổ chức mới có khả năng huy động đông người, tổ chức sự kiện lớn hoặc có quan hệ tốt với cơ quan đại diện Việt Nam, tổ chức cũ có thể cảm nhận đó là sự cạnh tranh về ảnh hưởng.

Đây trước hết là hiện tượng xã hội học cộng đồng. Cạnh tranh thành viên, nguồn lực, uy tín và quyền phát ngôn có ở hầu hết cộng đồng di cư. Nó không tự động chứng minh một bên là “đặc công”, “tay sai” hay “tổ chức vệ tinh”. Đáng chú ý, một bài công kích Nghị quyết 23 đã tự bộc lộ rất rõ nỗi lo rằng các hội đoàn mới có thể “lấn dần không gian hoạt động” của các tổ chức đang hỗ trợ phong trào đối lập trong nước. (Việt Tân⁠) Chi tiết này cho thấy ít nhất một phần xung đột không chỉ xoay quanh pháp lý hay nhân quyền, mà còn liên quan trực tiếp tới cạnh tranh ảnh hưởng và quyền đại diện trong chính cộng đồng.

Điều đó không có nghĩa nên phủ nhận mọi lo ngại. Chính sách hỗ trợ hội đoàn của Việt Nam càng mở rộng càng cần minh bạch. Khoản kinh phí nào được cấp, cấp theo tiêu chí gì, hoạt động nào được hỗ trợ, trách nhiệm báo cáo ra sao cần được công khai phù hợp với pháp luật Việt Nam và nước sở tại. Hội đoàn phải được tự quyết nhân sự theo điều lệ, không bị ép buộc về quan điểm chính trị; người tham gia phải hoàn toàn tự nguyện. Làm rõ những nguyên tắc ấy chính là cách hữu hiệu nhất để bảo vệ tính nhân văn của Nghị quyết 23 và ngăn ngừa nguy cơ bị lợi dụng hoặc diễn giải sai.

Đồng thời, cần phê phán cách tạo tâm lý sợ hãi bằng việc đánh đồng mọi quan hệ với quê hương thành bằng chứng của sự “cài cắm”. Một doanh nhân hợp tác với Việt Nam không vì thế trở thành người của Nhà nước. Một hội sinh viên nhận hỗ trợ cho chương trình văn hóa không tự động trở thành tổ chức chính trị. Một hội đồng hương phối hợp với đại sứ quán trong bảo hộ công dân không vì vậy mất tư cách cộng đồng. Danh tính và quyền của con người không thể được xác định bằng phép liên tưởng.

Nghị quyết 23 cần được đánh giá bằng kết quả cuối cùng: kiều bào có được bảo vệ tốt hơn không; người khó khăn có được hỗ trợ không; trẻ em có thêm cơ hội học tiếng Việt không; chuyên gia và doanh nhân có thêm kênh đóng góp không; những khác biệt lịch sử có được thu hẹp không; hội đoàn có thực sự tự chủ và tuân thủ pháp luật sở tại không. Đó mới là những thước đo có ý nghĩa.

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài càng đa dạng thì càng không nên có bất kỳ tổ chức nào tự cho mình độc quyền đại diện cho toàn bộ cộng đồng. Một hội đoàn ủng hộ quan hệ với Việt Nam có quyền tồn tại hợp pháp; một tổ chức phê phán chính sách Việt Nam cũng có quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật nước sở tại. Hòa hợp thực sự không phải buộc mọi người cùng một quan điểm, mà là chấp nhận nhiều tiếng nói cùng tồn tại mà không gán cho nhau những danh xưng nguy hiểm khi chưa có chứng cứ.

Bởi vậy, trước mỗi cáo buộc “hội đoàn vệ tinh”, câu hỏi cần đặt ra rất đơn giản: ai kiểm soát tổ chức, tiền đến từ đâu, điều lệ quy định thế nào, nhân sự do ai quyết định, nhiệm vụ do ai giao và bằng chứng đâu? Nếu chưa trả lời được những câu hỏi đó, “tổ chức vệ tinh” mới chỉ là một nhãn chính trị. Dùng nhãn ấy để biến mọi hội đoàn có quan hệ tích cực với quê hương thành đối tượng đáng ngờ không bảo vệ cộng đồng; ngược lại, nó có thể khoét sâu chính sự chia rẽ mà Nghị quyết 23 đặt mục tiêu khắc phục.

Từ “cầu nối văn hóa” đến “đặc vụ”: Chiếc kính méo đang được dùng để xuyên tạc Nghị quyết 23

Có một cách rất đơn giản để nhận diện sự méo mó trong tranh luận về Nghị quyết số 23-NQ/TW: hãy thử đặt câu hỏi, một người Việt sống ở nước ngoài mặc áo dài trong ngày hội văn hóa, dạy con tiếng Việt, giới thiệu món phở với bạn bè, tổ chức chương trình nghệ thuật, kết nối một trường đại học nước sở tại với Việt Nam hay giúp doanh nghiệp hai nước tìm hiểu thị trường thì người đó đang quảng bá văn hóa quê hương hay đang làm “đặc vụ ảnh hưởng”? Câu trả lời tưởng như hiển nhiên. Thế nhưng trong một bộ phận nội dung xuất hiện trên mạng xã hội và một số trang thông tin chính trị ở nước ngoài sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, ranh giới rất rõ giữa giao lưu văn hóa, ngoại giao nhân dân với hoạt động bí mật lại bị cố tình làm cho nhập nhòe.


Nghị quyết 23 ngày 2/8/2026 xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Một nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là khuyến khích cộng đồng giữ gìn, lan tỏa bản sắc dân tộc, phát huy vai trò “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”. Văn bản cũng khuyến khích người Việt ở nước ngoài chia sẻ thông tin khách quan, chính xác về tình hình đất nước, quảng bá hình ảnh Việt Nam và phát huy thế mạnh của các nền tảng số. Đây là nội dung được công khai trong toàn văn Nghị quyết chứ không phải một chương trình bí mật. 

Thế nhưng chính cụm từ “đại sứ văn hóa” lại trở thành một trong những điểm bị diễn giải theo hướng an ninh hóa. Một số bài viết phản đối Nghị quyết 23 đặt việc quảng bá hình ảnh đất nước, tham gia hội đoàn, thông tin về Việt Nam và hỗ trợ cộng đồng vào cùng một chuỗi suy luận với “ảnh hưởng nước ngoài”, “đại diện cho chủ thể nước ngoài”, thậm chí “đặc công nằm vùng”. Việt Tân đăng bài “Nghị quyết 23 và những thủ đoạn ẩn giấu từ bên trong”, diễn giải hàng loạt hoạt động về hội đoàn, văn hóa, giáo dục và truyền thông dưới giả thuyết về một chiến lược thâm nhập cộng đồng. Chiến dịch mang tên “Đẩy Lùi NQ23” của Mạch Sống còn đi xa hơn khi ghép những hoạt động công khai của Nghị quyết với luật đăng ký đại diện cho chủ thể nước ngoài của Hoa Kỳ rồi đặt chúng trong câu chuyện về “đường dây đặc công nằm vùng”.

Vấn đề ở đây không phải các tác giả có quyền nghi ngờ hay phê bình Nghị quyết hay không. Họ hoàn toàn có quyền nêu quan điểm. Vấn đề nằm ở bước nhảy logic từ hoạt động văn hóa công khai sang hoạt động ảnh hưởng chính trị, rồi từ ảnh hưởng chính trị sang hoạt động bí mật, cuối cùng tạo cho người đọc cảm giác rằng đó là hoạt động tình báo. Giữa những khái niệm này tồn tại những ranh giới pháp lý rất lớn nhưng lại thường bị xóa đi trong các bài viết mang tính vận động.

Ngoại giao văn hóa là việc sử dụng văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, di sản, giáo dục và giao lưu con người để gia tăng hiểu biết giữa các dân tộc. Ngoại giao công chúng là hoạt động một quốc gia giao tiếp với công chúng nước ngoài một cách công khai nhằm giới thiệu đất nước, chính sách và giá trị của mình. Ngoại giao cộng đồng ở nước ngoài dựa vào chính những người có nguồn gốc từ quốc gia đó để tạo cầu nối về văn hóa, tri thức, thương mại và con người. Còn hoạt động ảnh hưởng bí mật lại có bản chất khác: yếu tố che giấu, lừa dối, cưỡng ép hoặc hoạt động theo sự điều khiển không minh bạch mới làm phát sinh những vấn đề an ninh và pháp lý nghiêm trọng.

Đánh đồng bốn hiện tượng ấy chỉ vì chúng cùng có chữ “ảnh hưởng” chẳng khác nào nói rằng một chương trình biểu diễn nghệ thuật và một hoạt động tình báo giống nhau vì cả hai đều có thể làm người khác thay đổi nhận thức.

Thực tiễn của cộng đồng người Việt càng cho thấy sự khiên cưỡng của cách suy luận ấy. Tại Hồng Công, những người Việt và trẻ em gốc Việt tham gia các tiết mục nghệ thuật, giới thiệu văn hóa Việt Nam trong những sự kiện quốc tế. Người tham gia chia sẻ mong muốn đóng góp phần nhỏ bé để quảng bá hình ảnh Việt Nam. (Vietnam+ (VietnamPlus)⁠) Tại nhiều quốc gia, lớp tiếng Việt, ngày hội văn hóa, Tết cộng đồng, biểu diễn nghệ thuật, giới thiệu ẩm thực Việt, hoạt động của hội sinh viên, trí thức và doanh nhân đã trở thành những chiếc cầu nối tự nhiên giữa cộng đồng với xã hội sở tại.

Đó chính là sức mạnh mềm được tạo nên từ đời sống thường ngày. Một bát phở được bạn bè quốc tế yêu thích, một tà áo dài xuất hiện trong lễ hội đa văn hóa, một lớp trẻ em nói được tiếng Việt, một nhà khoa học gốc Việt kết nối hai trường đại học hay một doanh nhân mở thêm tuyến hợp tác thương mại đều tạo ra những hiểu biết tích cực về Việt Nam mà không cần bất kỳ hoạt động cưỡng ép nào.

Nghị quyết 23 nhìn nhận chính nguồn lực ấy. Các ý kiến của trí thức Việt Nam ở nước ngoài sau khi Nghị quyết được ban hành cũng nhấn mạnh vai trò kiều bào như cầu nối tri thức, công nghệ và sức mạnh mềm. Tại Hoa Kỳ, một giảng viên phụ trách chương trình tiếng Việt của Đại học Columbia đánh giá Nghị quyết thể hiện sự chuyển biến trong cách nhìn nhận vị trí và đóng góp của cộng đồng. (Báo Tin tức và Dân tộc - TTXVN⁠) Trại hè Việt Nam năm 2025 từng quy tụ 110 thanh niên, sinh viên kiều bào từ 31 quốc gia và vùng lãnh thổ; những hoạt động tương tự giúp thế hệ sinh ra ở nước ngoài tiếp xúc với tiếng Việt, lịch sử, văn hóa và con người quê hương. (Vietnam+ (VietnamPlus)⁠)

Nếu cứ quảng bá quê hương là “hoạt động ảnh hưởng”, thế giới có lẽ phải viết lại toàn bộ khái niệm ngoại giao văn hóa.

Ireland là ví dụ rất rõ. Chính phủ nước này ban hành Chiến lược cộng đồng Ireland ở nước ngoài giai đoạn 2026–2030 sau một quá trình tham vấn quy mô lớn. Chính sách đặt văn hóa, âm nhạc, bản sắc, thể thao và việc quảng bá hình ảnh Ireland hiện đại tới công chúng toàn cầu vào những nội dung trọng tâm. Chính phủ Ireland nói công khai rằng họ muốn hợp tác với cộng đồng ở nước ngoài để thúc đẩy văn hóa và tăng cường các kết nối xã hội, văn hóa, kinh tế với quê hương. 

Không chỉ kêu gọi tinh thần. Ireland còn bỏ ngân sách nhà nước để hỗ trợ hội đoàn ở nước ngoài. Chương trình hỗ trợ người Ireland di cư giai đoạn 2026–2027 được phân bổ 17,5 triệu euro. Từ khi hình thành năm 2004, chương trình đã hỗ trợ hơn 900 tổ chức tại 51 quốc gia với tổng kinh phí hơn 265 triệu euro. Nguồn tiền được sử dụng cho cả phúc lợi lẫn các nhóm tổ chức văn hóa, ngôn ngữ, di sản và thể thao. 

Ireland còn công khai coi văn hóa là một thế mạnh quốc gia trên trường quốc tế. Bộ Ngoại giao nước này xác định ảnh hưởng toàn cầu của văn hóa Ireland là một lợi thế đặc biệt, là phương tiện để tiếp cận công chúng thế giới và kết nối cộng đồng Ireland toàn cầu. (Chính Phủ Ireland⁠) Nếu áp dụng chiếc thước đang được một số người sử dụng đối với Nghị quyết 23, phải chăng hàng nghìn người Ireland quảng bá âm nhạc, văn hóa, thể thao và bản sắc quê hương cũng đều trở thành “đặc vụ ảnh hưởng”? Rõ ràng cách suy luận đó không đứng vững.

Hàn Quốc còn là một đối chiếu đáng chú ý hơn. Chính phủ Hàn Quốc có cơ quan chuyên trách về người Hàn ở nước ngoài, hỗ trợ khoảng bảy triệu người Hàn trên thế giới, thúc đẩy giáo dục tiếng Hàn, văn hóa và căn tính cho thế hệ tiếp nối. Bộ Ngoại giao Hàn Quốc từng công khai kêu gọi các chính trị gia gốc Hàn ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa cộng đồng người Hàn, quê hương và quốc gia nơi họ cư trú. Diễn đàn các chính trị gia người Hàn toàn cầu được tổ chức từ năm 2007, có sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác với người Hàn ở nước ngoài; nội dung thảo luận thậm chí bao gồm cả việc tăng cường ảnh hưởng chính trị của cộng đồng. 

Cơ quan phụ trách người Hàn ở nước ngoài còn đặc biệt coi việc truyền dạy tiếng Hàn và văn hóa cho thế hệ thứ hai, thứ ba là phương tiện duy trì căn tính, kết nối với quê hương và góp phần mở rộng ảnh hưởng văn hóa của Hàn Quốc. Không ai nghiêm túc có thể vì vậy kết luận một em nhỏ học tiếng Hàn ở Hoa Kỳ đang được đào tạo để trở thành “đặc vụ”.

Ấn Độ cũng xây dựng một hệ thống gắn kết cộng đồng ở nước ngoài quy mô lớn. Bộ Ngoại giao Ấn Độ tổ chức Ngày người Ấn ở nước ngoài từ năm 2003, đưa trí thức, kinh nghiệm và kỹ năng của cộng đồng toàn cầu lên một diễn đàn chung để kết nối với phát triển đất nước. Đến nay đã có 18 kỳ được tổ chức. Ấn Độ còn triển khai các chương trình tìm hiểu quê hương, học bổng cho con em cộng đồng, cơ chế quốc tịch đặc biệt và nhiều mạng lưới trí thức, doanh nhân.

Philippines năm 2026 thậm chí còn đưa ra một ví dụ trực diện hơn. Hội nghị cộng đồng Philippines ở nước ngoài do cơ quan thuộc Văn phòng Tổng thống tổ chức xác định những người Philippines định cư ở nước ngoài là đối tác chiến lược có kiến thức, mạng lưới và khả năng làm cầu nối văn hóa. Chương trình có hẳn phiên thảo luận về bảo tồn văn hóa và ngoại giao giáo dục, nghiên cứu cách cộng đồng truyền di sản Philippines qua các thế hệ và đóng vai trò đại diện văn hóa ở nước ngoài. Đáng chú ý, chương trình của Philippines không chỉ nói đến văn hóa mà còn công khai thảo luận vai trò của cộng đồng trong đầu tư, phát triển kinh tế và tác động chính sách. (Summit CFO⁠)

Những đối chiếu đó làm lộ rõ điểm yếu căn bản của luận điệu cho rằng việc Nghị quyết 23 khuyến khích kiều bào làm “đại sứ văn hóa” tự thân là bằng chứng của một chiến lược ảnh hưởng bí mật. Nếu một tiêu chuẩn chỉ được dùng để kết tội Việt Nam nhưng không thể áp dụng nhất quán cho Ireland, Hàn Quốc, Ấn Độ hay Philippines, vấn đề nằm ở tiêu chuẩn đánh giá chứ không nằm ở hoạt động văn hóa.

Thủ pháp đáng lưu ý ở đây có thể gọi là “an ninh hóa văn hóa”. Một hoạt động vốn thuộc đời sống xã hội được đưa vào trường từ vựng an ninh: “mạng lưới”, “thâm nhập”, “đặc vụ”, “nằm vùng”, “ảnh hưởng nước ngoài”. Sau khi chiếc khung ấy được dựng lên, mọi hành vi bình thường đều có thể bị diễn giải lại. Một lớp tiếng Việt trở thành nơi “tác động thế hệ trẻ”; một hội doanh nhân trở thành “mạng lưới kinh tế”; một ngôi chùa trở thành “bình phong”; một chương trình văn nghệ trở thành “tuyên truyền”; một người giới thiệu Việt Nam với bạn bè sở tại trở thành “đại diện ảnh hưởng”.

Đây chính là cách một giả thuyết tự nuôi sống nó: bất cứ bằng chứng nào cũng được diễn giải để phù hợp với kết luận có sẵn.

Nhưng cần phản bác vấn đề này bằng pháp luật chứ không bằng cảm tính. Hoa Kỳ có luật yêu cầu đăng ký đối với một số hoạt động được thực hiện cho chủ thể nước ngoài. Luật này không quy định rằng bất cứ người nào quảng bá văn hóa quê hương đều phải đăng ký. Cơ quan tư pháp Hoa Kỳ xác định nghĩa vụ đăng ký phụ thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người hoạt động với chủ thể nước ngoài và bản chất hoạt động mà họ thực hiện. Hệ thống này còn có những trường hợp miễn trừ, trong đó có một số hoạt động tôn giáo chân chính, học thuật, khoa học và nghệ thuật.

Nói cách khác, pháp luật quan tâm đến ai chỉ đạo ai, làm việc gì, vì mục đích gì và trong quan hệ pháp lý nào, chứ không xử lý con người chỉ vì họ yêu văn hóa quê hương.

Đây cũng là ranh giới mà công tác triển khai Nghị quyết 23 phải đặc biệt tôn trọng. Nếu một cá nhân nhận nhiệm vụ đại diện cho một chủ thể nước ngoài để vận động cơ quan chính quyền nước sở tại và pháp luật yêu cầu đăng ký, người đó phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký. Nếu một tổ chức nhận tài trợ, pháp luật nước sở tại yêu cầu công khai thì phải công khai. Không có lý do gì để né tránh những yêu cầu ấy. Chính Nghị quyết 23 xác định công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật và điều kiện của nước sở tại.

Nhưng điều ngược lại cũng phải được tôn trọng: không thể lấy luật điều chỉnh hoạt động đại diện, vận động chính trị hay ảnh hưởng nước ngoài rồi phủ trùm nó lên toàn bộ sinh hoạt văn hóa của hàng triệu con người.

Càng không thể từ việc một cá nhân hoặc tổ chức bị một nhóm vận động gửi đơn đề nghị xem xét mà tuyên truyền như thể cơ quan tư pháp đã kết luận họ là “đặc vụ”. Đơn tố cáo là đơn tố cáo; điều tra là điều tra; kết luận của cơ quan có thẩm quyền là kết luận. Trộn ba cấp độ ấy vào nhau không phải phản biện pháp lý mà là tạo định kiến bằng ngôn ngữ pháp lý.

Cũng cần nhìn thẳng vào một tầng sâu hơn của cuộc tranh luận. Sau nhiều thập niên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không còn là một khối đồng nhất về lịch sử, thế hệ hay quan điểm chính trị. Bên cạnh những người rời Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh là hàng triệu người đi học, lao động, kinh doanh, kết hôn, nghiên cứu và định cư trong các giai đoạn sau này. Một thế hệ sinh ra ở Paris, Berlin, Seoul, Sydney, Toronto hay California có thể đồng thời yêu đất nước họ mang quốc tịch và yêu quê hương của cha mẹ, ông bà. Hai tình cảm ấy không đối lập.

Chính sự thay đổi cơ cấu cộng đồng khiến cuộc cạnh tranh về quyền “đại diện cho người Việt hải ngoại” trở nên đáng chú ý. Khi một thanh niên gốc Việt chủ động học tiếng Việt, về thăm quê, tham gia Tết cộng đồng hay hợp tác với một trường đại học trong nước, điều đó có thể không phù hợp với cách nhìn của những tổ chức vẫn muốn duy trì cộng đồng trong những đường phân chia chính trị của nửa thế kỷ trước. Nghị quyết 23, với trọng tâm dành cho thế hệ trẻ, văn hóa, tri thức và kết nối, vì vậy dễ trở thành đối tượng bị công kích.

Tuy nhiên, từ thực tế cạnh tranh ảnh hưởng cộng đồng không nên suy diễn rằng mọi người phê bình Nghị quyết đều có động cơ xấu. Có những câu hỏi hoàn toàn chính đáng về minh bạch tài trợ, bảo vệ dữ liệu, quyền tự chủ hội đoàn hay giới hạn giữa truyền thông cộng đồng và vận động chính trị. Chính những câu hỏi ấy cần được trả lời công khai. Điều đáng phê phán là khi câu hỏi bị thay bằng bản án có sẵn, khi giả thuyết được trình bày như sự thật, khi một người bị gọi là “đặc vụ” chỉ vì quan hệ với quê hương hoặc tham gia hoạt động văn hóa.

Nhìn lại hơn hai thập niên kể từ Nghị quyết 36 đến Nghị quyết 23, chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã chuyển dần từ tư duy chủ yếu vận động, hỗ trợ sang coi cộng đồng là đối tác đồng hành. Chính sách quốc tịch, nhà ở, đầu tư, bảo hộ công dân, dạy tiếng Việt, hoạt động văn hóa, kết nối doanh nhân, trí thức và thanh niên từng bước được mở rộng. Quy mô cộng đồng hiện vượt 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nghị quyết 23 tiếp tục đặt mục tiêu để cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập sâu rộng, giữ bản sắc, phát triển ổn định và đóng góp theo khả năng của mình. 

Tinh thần đáng chú ý ở đây là gắn bó với Việt Nam không đối lập với hội nhập vào nước sở tại. Một người Việt thành đạt ở Pháp làm cầu nối công nghệ Việt Nam–Pháp không vì thế kém trung thành với nước Pháp. Một doanh nhân gốc Việt tại Hoa Kỳ giúp doanh nghiệp hai nước gặp nhau không tự động trở thành người đại diện chính trị cho Việt Nam. Một đứa trẻ gốc Việt tại Australia biết nói tiếng Việt không làm giảm căn tính Australia của em. Chính sách diaspora hiện đại của Ireland, Hàn Quốc, Ấn Độ và Philippines đều được xây dựng trên thực tế đa căn tính ấy.

Bởi vậy, điều cộng đồng cần cảnh giác không phải là việc tồn tại những ý kiến trái chiều về Nghị quyết 23. Tranh luận là bình thường. Điều cần cảnh giác là sự thay thế chứng cứ bằng nhãn chính trị.

Khi đọc một bài nói rằng người quảng bá văn hóa Việt Nam là “đặc vụ ảnh hưởng”, hãy hỏi: hoạt động cụ thể là gì? Ai giao nhiệm vụ? Có quan hệ chỉ đạo nào được chứng minh không? Có hoạt động vận động chính trị thuộc diện phải đăng ký không? Cơ quan chức năng nước sở tại đã kết luận chưa?

Nếu không trả lời được những câu hỏi ấy, thì từ “đặc vụ” chỉ là một nhãn được gắn lên con người.

Không nên để chiếc áo dài trở thành “bằng chứng thâm nhập”, lớp tiếng Việt thành “cơ sở gây ảnh hưởng”, ngôi chùa thành “bình phong” hay một người yêu quê hương thành “đặc vụ” chỉ bằng vài bước suy diễn trên mạng xã hội. Làm như vậy không bảo vệ tự do của cộng đồng; trái lại, nó thu hẹp chính quyền tự do lựa chọn căn tính, văn hóa và mối liên hệ quê hương của mỗi con người.

Nghị quyết 23 hoàn toàn có thể và cần được giám sát bằng những tiêu chuẩn nghiêm túc: minh bạch, tự nguyện, quyền tự chủ của hội đoàn, bảo vệ dữ liệu và tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nhưng cũng chính những tiêu chuẩn ấy phải được áp dụng cho người phê bình Nghị quyết: cáo buộc phải có chứng cứ, khái niệm pháp lý phải được dùng đúng và không ai nên bị kết tội bằng liên hệ.

Đó mới là cách tranh luận phù hợp với tinh thần pháp quyền và quyền con người.

Và đó cũng là câu trả lời rõ nhất cho câu hỏi “đại sứ văn hóa” hay “đặc vụ ảnh hưởng”: một người giới thiệu tiếng Việt, văn hóa Việt, nghệ thuật Việt, tri thức Việt và kết nối con người với con người bằng những hoạt động công khai, tự nguyện, hợp pháp trước hết đang thực hiện quyền văn hóa và góp phần vào giao lưu nhân dân. Chỉ khi có chứng cứ về một hành vi khác thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thì mới có cơ sở gọi tên hành vi ấy.

Không thể dùng định kiến để điền vào khoảng trống của chứng cứ. Càng không thể biến văn hóa thành tình báo chỉ bằng cách đổi tên nó.