Tuesday, December 3, 2024

Lạm bàn về cái gọi là "báo cáo về tình hình tự do Internet"

Đây không phải là lần đầu tiên tổ chức Freedom House đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của Freedom House là vô giá trị và không cần thiết phải bình luận thêm.

Câu hỏi là, vậy Freedom House (FH) là tổ chức như thế nào mà thường xuyên có cái nhìn lệch lạc như thế!?

Freedom House là gì!?

FH được thành lập ngày 31/10/1941 bởi Eleanor Roosevelt (vợ Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt) và Wendell Willkie. Trụ sở ban đầu của FH tại Wasington DC, Mỹ (hiện nay NGO này có trụ sở tại 12 thành phố thuộc 11 quốc gia). Ban đầu, FH được biết tới như là một tổ chức ủng hộ Đức Quốc xã và phe Trục, phản đối Hoa Kỳ tham gia chiến tranh thế giới thứ II. Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, FH tự ban hành các tiêu chuẩn để đánh giá nhân quyền, quyền tự do của công dân trên toàn thế giới, nhất là ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh. FH luôn ủng hộ phong trào đối lập hoặc các lực lượng đối lập với chính quyền tại các quốc gia thuộc các lục địa trên, nhất là các quốc gia thuộc hệ thống XHCN. Các nguồn tìn công khai trên báo chí nước ngoài đều cho thấy FH can dự vào việc lật đổ chính quyền ở Serbia, Ukraina, Kyrgyzstan, Iraq... Trên danh nghĩa thì Freedom House là một tổ chức phi chính phủ nhưng trong thực tế thì Freedom House là “cánh tay nối dài” của Cơ quan đặc biệt Mỹ. Lịch sử của Freedom House cho thấy đây là một tổ chức được lập ra nhằm tung ra những thông tin sai trái, vu cáo, bịa đặt nhằm vào những quốc gia có chủ quyền để kích động sự chống đối, gây rối loạn xã hội các quốc gia đó. Theo báo cáo tài chính của FH năm 2016 (Financial Statements and Independent auditors’ report), NGO này thường xuyên được Chính phủ Mỹ tài trợ (năm 2016 là hơn 2,7 triệu USD), ngoài ra còn có các nguồn thu khác (tổng hàng năm khoảng 10 triệu USD).

Cái gọi là báo cáo về tình hình tự do Internet

Hàng năm (từ 1973), FH công bố báo cáo thường niên “Tự do trên thế giới” nhằm đánh giá mức độ tự do dân sự và các quyền chính trị của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (tự do chính trị, tự do thông tin...). Để ra báo cáo này, FH áp dụng các tiêu chuẩn do tổ chức này tự ban hành để đánh giá sự tự do của các quốc gia. Một quốc gia được gọi là tự do nếu đáp ứng được các yêu cầu sau của FH: Hệ thống chính trị đa đảng, quyền phổ thông đầu phiếu cho mọi công dân (không có án tích); bầu cử cạnh tranh; sự tiếp cận của người dân với các đảng phái thông qua vận động tranh cử. Điểm tối đa là 100 (tự do); càng ít điểm là càng không có tự do.

Với Việt Nam, các báo cáo hằng năm đều liệt Việt Nam vào danh sách các nước không có tự do (năm 2018: 20/100 điểm; năm 2019: 24/100 điểm, từ năm 2021 đến nay Việt Nam đều có điểm số 22/100). Báo cáo của FH không căn cứ trên bất cứ thông tin chính thống nào tại Việt Nam, không căn cứ vào đánh giá chính thức của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế mà bằng cách đối chiếu với “tiêu chuẩn” vô lý do NGO này tự đặt ra, phỏng vấn những kẻ “bất đồng chính kiến” và những người có quan điểm thù địch với hệ thống XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng, mục đích là để hạ uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, kêu gọi chính phủ Việt Nam thực hiện mô hình đa nguyên, đa đảng.

Như vậy chúng ta có thể khẳng định, tự do tuyệt đối là không thể có dù ở bất cứ chế độ chính trị nào. Các quốc gia đều có quy định xử lý hành vi lợi dụng tự do để xâm phạm quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Việc đề cao tự do, đặc biệt là tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân. Không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý, đạo đức và luật pháp. Đất nước đó có được tự do, hạnh phúc hay không phải do đông đảo người dân quốc gia ấy đánh giá, nhận xét. Một vài nhóm người, tổ chức không hiểu họ lấy quyền gì, căn cứ vào đâu để năm này qua năm khác đưa ra những bản báo cáo hoàn toàn không có giá trị với Việt Nam. Hành động đó chỉ càng làm họ ngày một giống loài động vật nhai lại.

Monday, December 2, 2024

Mưu đồ của cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam" của tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam - VHRN” ở Mỹ

 Ngày 18/11/2024, tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam - VHRN” ở Mỹ đã công bố cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2024” để “vinh danh” các đối tượng Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận, Đặng Đăng Phước đang chấp hành án phạt tù về các tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam. Ngay lập tức trang trang truyền thông chống Nhà nước Việt Nam tích cực loan tin, quảng bá giải thưởng này cũng như tâng bốc những kẻ nhận giải qua đó bôi nhọ bản chất chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay. 



Để tìm hiểu lý do vì sao có loại giải thưởng này, trước hết chúng ta cần phân tích nguồn, gốc, mục đích của cái gọi là "Giải thưởng nhân quyền Việt Nam" của tổ chức VHRN này

Nguồn gốc và sự ra đời của giải thưởng

"Giải thưởng nhân quyền Việt Nam" được khởi xướng bởi Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (Vietnam Human Rights Network – VHRN), một tổ chức tự xưng thành lập tại Mỹ vào năm 1997. Tổ chức này tuyên bố sứ mệnh là "thúc đẩy dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam", nhưng hoạt động của họ lại thường xoay quanh việc xuyên tạc tình hình chính trị và nhân quyền trong nước.

Từ năm 2002, VHRN bắt đầu trao giải thưởng này để "vinh danh" các cá nhân hoặc tổ chức mà họ cho là đã có đóng góp trong "cuộc đấu tranh bất bạo động" vì nhân quyền. Trên thực tế, nhiều cá nhân được trao giải lại là những người đã bị xử lý theo pháp luật Việt Nam vì hành vi vi phạm luật pháp, như tuyên truyền chống phá Nhà nước, lợi dụng tự do ngôn luận để kích động, và thậm chí tham gia các hoạt động lật đổ chính quyền.

Mục đích của giải thưởng

  1. Tuyên truyền và tạo dư luận quốc tế
    Giải thưởng này là công cụ chính để VHRN phát động các chiến dịch truyền thông nhằm công kích Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Việc trao giải cho những cá nhân bị kết án tại Việt Nam được sử dụng như "bằng chứng" để tổ chức này lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, qua đó thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế, các tổ chức nhân quyền và các chính phủ phương Tây.

  2. Hợp thức hóa và bảo vệ các cá nhân, tổ chức chống đối
    Việc "vinh danh" các cá nhân bị kết án hình sự là một nỗ lực nhằm biến họ thành "người hùng" trong mắt cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ che giấu bản chất vi phạm pháp luật của họ mà còn tạo vỏ bọc cho những hành vi chống đối sau này.

  3. Huy động tài trợ và hỗ trợ chính trị từ bên ngoài
    Thông qua các hoạt động như trao giải thưởng, VHRN kêu gọi tài trợ từ các tổ chức quốc tế và các cá nhân ủng hộ dân chủ. Giải thưởng là một phần trong chiến lược duy trì nguồn tài chính và sự hậu thuẫn chính trị từ các thế lực nước ngoài.

  4. Gây áp lực ngoại giao lên chính phủ Việt Nam
    Việc công bố giải thưởng nhằm gửi thông điệp chính trị đến chính phủ Việt Nam, thể hiện rằng các cá nhân hoặc tổ chức mà họ hỗ trợ vẫn được bảo vệ và ủng hộ từ bên ngoài, đồng thời gây sức ép buộc Việt Nam phải thay đổi chính sách.

Mục tiêu mà VHRN theo đuổi thông qua giải thưởng

  1. Thay đổi nhận thức quốc tế về tình hình nhân quyền ở Việt Nam
    VHRN sử dụng giải thưởng để vẽ lên một bức tranh rằng Việt Nam là quốc gia đàn áp nhân quyền. Thông qua các báo cáo và thông tin một chiều, họ tìm cách tạo ra một hình ảnh tiêu cực trong mắt cộng đồng quốc tế.

  2. Tạo diễn đàn cho các thế lực chống đối Việt Nam
    Mục tiêu sâu xa là xây dựng một mạng lưới hỗ trợ cho các cá nhân và tổ chức chống đối tại Việt Nam. Giải thưởng trở thành một công cụ kết nối các nhóm trong và ngoài nước, tạo nền tảng cho các phong trào chống đối lâu dài.

  3. Cổ xúy cho các hoạt động phá hoại ổn định chính trị tại Việt Nam
    Bằng cách khuyến khích và công nhận các cá nhân có hành động chống phá, VHRN tìm cách khích lệ những người khác tham gia các hoạt động tương tự, từ đó gây bất ổn xã hội và chính trị.

  4. Chính trị hóa vấn đề nhân quyền
    Giải thưởng không đơn thuần là một hoạt động tôn vinh nhân quyền, mà mang nặng động cơ chính trị. Bằng việc trao giải cho những người chống đối chính quyền, họ biến nhân quyền thành công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Như vậy "Giải thưởng nhân quyền Việt Nam" không phải là một hoạt động mang tính khách quan và phi chính trị như tuyên bố của Mạng lưới nhân quyền Việt Nam. Thay vào đó, đây là một công cụ nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị dài hạn, bao gồm tuyên truyền, gây áp lực ngoại giao, và hỗ trợ các lực lượng chống đối chính quyền. Trong bối cảnh này, việc hiểu rõ động cơ và mục đích của giải thưởng này là rất cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì sự ổn định trong nước.

Báo cáo vô giá trị của Freedom house


Năm nay, báo cáo của Tổ chức Ngôi nhà tự do Freedom House tiếp tục chấm Việt Nam 22/100 điểm về quyền tự do Internet. Với điểm số này, Việt Nam bị xếp hạng là không tự do với những luận điệu cũ kỹ nhằm bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam, với bạn bè quốc tế, tổ chức Freedom House tự cho mình được quyền phán xét tình hình nước khác mà không dựa trên bất cứ một sự thật khách quan nào. Mời quý vị cùng chúng tôi phân tích chi tiết những nhìn nhận thiếu thiện chí để thấy được tính chất sai trái của bản báo cáo này.

Nhận định này của Freedom House hoàn toàn đi ngược lại thực tế ở Việt Nam, sau hơn 25 năm vào Việt Nam, Internet được sử dụng rộng rãi, đã đóng góp mạnh mẽ cho sự phát triển của kinh tế đất nước. Tổng doanh thu của nền kinh tế Internet Việt Nam trong năm 2022 dự báo đạt 57 tỉ đô la Mỹ, trong đó thương mại điện tử ước đạt 16,4 tỉ đô la Mỹ. Ngày mùng 6/11, báo cáo của Google, Công ty Meta đã nhận định Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế số nhanh nhất khu vực Đông Nam Á năm thứ hai liên tiếp. Đây là những thành quả của tự do Internet của Việt Nam, nếu mà chúng ta cản trở sự phát triển của Internet thì không thể có cái tốc độ phát triển internet ở Việt Nam như hiện nay người dân có thể được truy cập internet ở bất cứ đâu, tốc độ phát triển Internet Việt Nam đang đứng đầu khu vực cũng như trên thế giới. Chúng ta đã có những cái bước phát triển rất là mạnh mẽ trong việc là ứng dụng công nghệ Internet phục vụ cho người dân trong nước.

Một trong những đoạn điệu mà báo cáo này đưa ra là Việt Nam không có tự do Internet vì thường xuyên kiểm soát nội dung, hạn chế quyền tự do Internet của người dân, hơn nữa, buộc các nền tảng mạng xã hội phải gỡ bỏ một số bài đăng trong khi thực tế là những nội dung bị buộc gỡ bỏ đang gây hại đến cuộc sống người dân và sự lành mạnh của môi trường internet. Đây là hoàn toàn phù hợp với những cái cam kết của Việt Nam, với các cái tổ chức quốc tế, với Liên hợp quốc và trong Hiến chương Liên hợp quốc về nhân quyền cũng nhấn mạnh điều này. Trong Hiến pháp của Việt Nam 2013 cũng đã nêu rõ những nội dung xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, những nội dung sai sự thật về tình hình sức khỏe cộng đồng, những nội dung xâm phạm đến đạo đức cộng đồng, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là những cái nội dung xâm phạm đến quyền trẻ em là Việt Nam đang yêu cầu các nhà mạng phải tuân thủ tuyệt đối đảm bảo xóa bỏ. Nửa đầu năm 2024, Việt Nam đã làm việc với các công ty công nghệ sở hữu những mạng xã hội xuyên biên giới này và các công ty này đã hợp tác gỡ bỏ hàng nghìn bài viết, video đăng thông tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, thương hiệu cá nhân, tổ chức. Thậm chí Google, Facebook, Tiktok còn tự chủ động rà quét, gỡ bỏ hay chặn khỏi truy cập hàng nghìn nội dung tiêu cực, sai sự thật. Chúng ta đã đạt được cơ chế làm việc với các cái mạng xã hội này về tháo gỡ các cái thông tin sai sự thật, quảng cáo xây dựng thật thông tin xấu độc và chúng ta cũng đã thể chế hóa ở trong các văn bản pháp luật, cả trách nhiệm của mạng xã hội, thời gian tháo gỡ...

Báo cáo này đưa ra dẫn chứng Việt Nam bắt bớ hay trừng phạt những người sử dụng Internet vì hoạt động trực tuyến của họ. Nhưng sự thật những người mà báo cáo này gọi là nhà hoạt động nhân quyền lại vi phạm pháp luật hình sự của Việt Nam, cần phải được nghiêm trị để làm gương cho những trường hợp khác Sau thời điểm báo cáo của Phi Đừm House công bố,

Nhiều tờ báo, trang thông tin thiếu thiện chí tiếp tục té nước theo mưa để gieo rắc thêm những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam. Trong khi sự thật, những biện pháp Việt Nam đặt ra những quy định gỡ bỏ nội dung độc hại trong vòng 24h nhằm mục đích làm sạch nhanh chóng môi trường internet, đó là thời gian rất muộn vì thông tin giả xấu, độc sai sự thật hiện nay lan truyền rất nhanh, có thể là tính bằng giây, do đó là chúng ta phải khẩn trương, có khung thời gian để đảm bảo quét được những thông tin sớm thực hiện các quyền thì phải phải đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật. Ở đây không có tự do quá trớn và tự do ngoài khuôn khổ, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân phải đảm bảo thực hiện đúng quy định của Hiến pháp và các cái nội dung pháp luật liên quan, Việt Nam hoàn toàn không lấy lý do công nghệ hay là lấy lý do này, lý do khác để đàn áp hay hạn chế người dân.

  Bản chất của những nhận định sai lệch, thiếu thực tế của tổ chức FH hay những bài viết trên các trang mạng khác về tự do Internet của Việt Nam đều là để bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam leo lái, định hướng dư luận một cách thiếu khách quan. Mục đích cuối cùng đó là họ muốn vu cáo cho Việt Nam chúng ta là vi phạm quyền tự do dân chủ của người dân, nói xấu chế độ và bôi xấu cái hình ảnh đẹp của đất nước Việt Nam chúng ta ở trên trường quốc tế và qua đó là muốn chèo lái định hướng dư luận của quốc tế, nghĩ không tốt về Việt Nam, về cái vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó là mùa đa nguyên, đa Đảng và thay đổi chế độ ở Việt Nam chúng ta, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo lập diễn biến hòa bình và lật đổ cái chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc làm, lành mạnh hóa môi trường Internet là đòi hỏi của thực tiễn và đòi hỏi của chính người dân. Chống lại những thông tin sai lệch trên không gian mạng chính là bảo vệ môi trường Internet cho chính mỗi công dân và cũng là để bảo vệ đất nước trên không gian mạng.

Sunday, December 1, 2024

Dân mạng Việt đàm tiếu về cái gọi là "iệt Nam không có tự do Internet"

 

Báo cáo của Freedom House cho rằng Việt Nam không có tự do Internet thực sự đã làm những Netizen - cư dân mạng Việt Nam - vốn rất đông đảo và đang hàng ngày hàng giờ sinh hoạt trên không gian mạng với đủ loại hình và nội dung - phải nổi giận và phản ứng.

Trên mạng xã hội, không ít tài khoản gọi Freedom House là “Tổ chức Nhân Quyền nằm gầm giường điều tra thế giới”, cho rằng chắc chúng ta đang kết nối internet bằng sóng não và hài hước bình luận Hàng triệu người Việt mỗi ngày đang sử dụng hàng chục MXH như: Zalo Tinder để phục vụ cho ngành nông nghiệp - nuôi sò Online; Facebook nghiên cứu thiên văn học về các chòm Sao Kê mới nổi; Telegram trao đổi các tài liệu mật mỗi ngày... Thế mà vẫn bảo không có tự do 😐Đây thật sự là đánh giá khó hiểu. Nhiều bình luận phản đối một cách hài hước, ví dụ thế này:

- Mình đang dùng GPRS 15k/lần đăng ký ạ.

- Confirm nhé, mình k đc sử dụng internet, đang comment bằng bồ câu đưa thư nè

- Freedom House á. Quá quen với cái tổ chức được bọc lót bởi bọn tư bản nào đó rồi

- Không đc tự do dùng internet mà lại lọt top quốc gia kém văn minh nhất trên mạng à.

- Ủa khoan, rồi bằng cách nào tụi nó biết được VN kém văn hoá trên internet nhất nhì thế giới?

Trong khi đó, nhiều người mỉa mai Freedom House là tổ chức đánh giá nhân quyền uy tín vĩ đại đẳng cấp bậc nhất!? Đồng thời dẫn ra sự vô lý của các tổ chức chuyên đánh giá tự do, nhân quyền là: Tổ chức A: Việt Nam top kém văn minh trên mạng; Tổ chức B: Việt Nam thuộc top người xài smartphone; Tổ chức C: Việt Nam thuộc top các quốc gia nhiều người dùng mạng xã hội nhất; Tổ chức D: Việt Nam không có tự do internet, bị cấm truy cập mạng xã hội, không được phát ngôn trên mạng. Trong khi đó, nhiều độc giả phát hiện nước Mỹ được chấm 76/100 điểm mà vẫn còn tình trạng block người dùng mạng xã hội thì chứng tỏ là quốc gia này có biểu hiện của mua điểm...

Không chỉ dừng lại ở đó, rất nhiều người đã vào thẳng trang fanpage của tổ chức này để trút bỏ sự tức giận:

- Người Mỹ quá rảnh rỗi và không chịu tìm hiểu gì cả. Facebook có thể bịt miệng ông Trump => có nhân quyền? Còn người Việt Nam dùng internet đi đến đâu, nói cái gì tùy thích => không có nhân quyền??? Trí tuệ người Mỹ ngày càng tệ, bảo sao bị Trung Quốc dắt mũi hoài.

- Tổ chức Freedom House của các bạn hoạt động để bảo vệ tự do dân chủ cho người Mỹ da trắng nơi đất nước của các bạn. Còn dân Việt Nam chúng tôi không cần Tự Do Dân Chủ của các bạn đâu, bởi vì từ năm 1955 cho đến khi các bạn CÚT KHỎI Việt Nam chúng tôi năm 1975, dân Việt Nam chúng tôi đã quá hiểu cái kiểu Tự Do Dân Chủ của các bạn rồi. Bây giờ dân Việt Nam chúng tôi cũng đã thấy các bạn ban phát Dân Chủ cho các nước như Irap, Lybia, Syria, Afgra, Ukraine vv .. vv, vậy nên nhóm Freedom House các bạn im đi, và cũng đừng bao giờ nói về Việt Nam chúng tôi nữa.

- Chúng tôi làm gì có internet chính chúng tôi đến đây bằng niềm tin. Với những tuyên bố ngu dốt như vậy có phải là các vị được tài trợ để tỏ ra ngu dốt.

Có thể thấy, hầu hết người dùng Internet ở Việt Nam đều coi cái báo cáo kia của Freedom House là một thứ trò hề không hơn không kém. Và qua đây có thể thấy, nhận thức của giới trẻ và người dùng mạng của Việt Nam đã thực tế và tỉnh táo hơn rất nhiều!


 

Saturday, November 30, 2024

Một báo cáo "láo"

 

Tổ chức Freedom House có trụ sở tại Mỹ, chuyên về dân chủ, nhân quyền, ngày 16/10/2024 vừa ra một bản báo cáo "Freedom on the net" năm 2024 để chỉ về mức độ tự do dân chủ ở các quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế giới trên mạng. Trong bản báo cáo này, Freedom House xếp Việt Nam đạt 22/100 điểm - hàng thấp kém nhất thế giới. Theo đó, nhóm thấp kém nhất này bao gồm các quốc gia không có nhân quyền, không có tự do internet: không được truy cập vào mạng xã hội hay các nội dung quốc tế, bị cấm phát ngôn trên không gian mạng, không có quyền bầu cử, không có quyền tự do đi lại, không được hội họp...

Trong tiêu chí về phương tiện truyền thông độc lập và tự do trên không gian mạng, Freedom House cho rằng Việt Nam đã yêu cầu Facebook và Google kiểm duyệt một số nội dung mà Việt Nam cho rằng vi phạm an ninh quốc gia, thông tin không chính xác, giả mạo thông tin... Chuyên gia của tổ chức này cho biết Chính phủ Việt Nam hạn chế người dân truy cập mạng xã hội và hạn chế tối đa quyền được phát ngôn trên internet. Người dân Việt Nam không được bày tỏ ý kiến cá nhân trong đời sống và không được bày tỏ quan điểm, chia sẻ thông tin đối lập.

Rõ ràng là một báo cáo lừa đảo. Hàng triệu người Việt mỗi ngày đang sử dụng hàng chục MXH như: Zalo, Tinder để tương tác; sử dụng Facebook, Instagram để kết nối, tương tác hay sống “ảo”; Telegram trao đổi các tài liệu mỗi ngày... Thế mà vẫn bảo không có tự do. Đây thật sự là đánh giá khó hiểu của 1 tổ chức đến từ đất nước đã từng block hết nick của Tổng thống Donald Trump (Twitter trước khi bị Musk mua lại từng coi nội dung ông Trump đăng tải là độc hại và khóa nick của ông ta). Mặt khác, Microsoft đã từng xếp Việt Nam vào hàng các nước kém văn minh nhất thế giới trên Internet. Nếu không có tự do trên không gian mạng thì làm gì có cái đánh giá trên. Nhiều người không biết Freedom House là gì, nhưng không nhiều người không biết tới Microsoft.

Freedom House cho rằng Việt Nam không được bày tỏ đức tin tôn giáo của mình ở nơi riêng tư và khu công cộng. Quyền tự do tôn giáo Việt Nam bị hạn chế và căng thẳng. Các tôn giáo không được công nhận không được phép hoạt động.

Về mặt pháp luật, Free House đánh giá Việt Nam ở mức kém khi duy trì án tử hình cho các tội như giết người, buôn bán ma túy...

Về một số đơn vị NGO - nói nôm na là các tổ chức phi chính phủ bị cấm hoạt động, hoặc bị giới hạn hoạt động đến mức gần như không phát sinh hoạt động. Cần biết rằng các NGO ở Việt Nam vẫn được tham gia vào các hoạt động hỗ trợ người yếu thế, gặp khó khăn, tình nguyện viên bảo vệ môi trường, từ thiện.

Freedom House cũng vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số thông qua việc cấm người dân tộc thiểu số tham gia vào việc học tập và việc làm. Nhận định này là một trong những nhận định vô lý nhất, khi người dân tộc thiểu số ở Việt Nam được hỗ trợ về giáo dục, việc làm, tiếp cận với điện, đường, trường, trạm... rất rõ ràng. Chính UNDP - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc đã ngợi khen Việt Nam là một trong số ít các quốc gia duy trì, cân bằng và quan tâm đến lợi ích của các nhóm dân tộc thiểu số. Freedom House và UNDP, chắc chắn UNDP đáng tin hơn rồi.

Về cơ bản, Việt Nam bị Freedom House đánh giá "kém về mọi mặt" liên quan đến nhân quyền, tự do dân chủ hơn so với năm 2022. Đặc biệt ở các tiêu chí tự do internet, tự do bầu cử...bị đánh giá thấp hơn các năm trước.

Vậy nên cái báo cáo kia là một báo cáo láo!


 

Thursday, November 14, 2024

Phản bác luận điệu “đàn áp tôn giáo”: Chính sách hỗ trợ xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự!

 


Một số báo cáo nhân quyền từ Bộ Ngoại giao Mỹ, USCIRF, hoặc ý kiến của vài NGO, nhân viên ngoại giao, dân biểu phương Tây thường cho rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo,” “hạn chế xây dựng cơ sở thờ tự” hay “không cho phép người dân phát triển nơi hành lễ.” Những nhận định này không xem xét đầy đủ các chính sách ưu đãi của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong hỗ trợ đất đai, xây dựng, sửa chữa công trình tôn giáo.

Trên thực tế, Việt Nam có hệ thống pháp lý minh bạch, các văn bản liên quan đến đất đai và tín ngưỡng, tôn giáo cho phép và thậm chí khuyến khích tổ chức tôn giáo xây dựng, tu sửa chùa chiền, nhà thờ, đền, miếu… nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số để đáp ứng nhu cầu tâm linh.

Hiến pháp 2013 (Điều 24) khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có theo hoặc không theo tôn giáo nào, và Nhà nước tôn trọng các hoạt động tôn giáo hợp pháp. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định rõ các tổ chức tôn giáo được đăng ký hoạt động, có tư cách pháp nhân, được quyền sử dụng tài sản cho mục đích tôn giáo, bao gồm đất đai và công trình xây dựng. Thủ tục xây, sửa cơ sở thờ tự nếu đáp ứng đúng quy hoạch, mục đích tôn giáo, thì Nhà nước chấp thuận. Luật Đất đai 2013 cùng nghị định, thông tư hướng dẫn, đã quy định việc giao đất, cho thuê đất hoặc cấp quyền sử dụng đất cho tổ chức tôn giáo để xây dựng cơ sở tôn giáo. Ở nhiều địa phương, chính quyền cấp đất miễn phí hoặc hỗ trợ thủ tục hành chính cho cơ sở tôn giáo, đặc biệt với các vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu xây chùa, nhà thờ, thánh thất…Chính sách tạo điều kiện xây, sửa công trình tôn giáo phản ánh tinh thần ICCPR (Điều 18) về quyền tự do biểu đạt niềm tin, miễn là không vi phạm an ninh, trật tự, môi trường hay quyền của người khác.

Nhiều tỉnh, thành phố chủ động cấp đất, bàn giao vị trí thuận lợi để xây thêm chùa, nhà thờ. Ví dụ: TP Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m² đất cho Tổng Liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam) để xây Viện Thánh Kinh Thần học. Tỉnh Đắk Lắk đã giao hơn 11.000 m² đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột mở rộng cơ sở. Tỉnh Quảng Trị mới giao thêm 15 ha đất cho giáo xứ La Vang để nâng cấp Trung tâm hành hương.

Tính đến nay, khoảng 70% cơ sở tôn giáo đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, góp phần bảo đảm pháp lý để tu bổ, mở rộng. Phần còn lại đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục, không có chuyện “ngăn cấm” hoặc “bác bỏ” vô cớ.

Đặc biệt, Nhà nước rất quan tâm đầu tư phát triển tôn giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, như: Cho tu bổmở rộng chùa Nam Tông Khmer, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, nhiều ngôi chùa cổ đã được tôn tạo, giữ gìn di sản văn hóa. Nhà nước hỗ trợ quy hoạch đất, tài chính hạ tầng; nhiều chùa mới xây lên, đáp ứng nhu cầu tu học cho đồng bào dân tộc Bana, Êđê…Không ít trường hợp chính quyền cấp đất, cho phép xây dựng nhà nguyện Tin Lành ở bản xa xôi, tạo điều kiện bà con sinh hoạt tôn giáo hợp pháp.

Với những cơ sở thờ tự xuống cấp, chính quyền phối hợp ban quản lý di tích (nếu được xếp hạng) hoặc tổ chức tôn giáo để kêu gọi quỹ, thực hiện tu sửa. Có sự đồng thuận giữa Nhà nước và các chức sắc trong việc bảo tồn yếu tố lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ tôn giáo.

Một số trường hợp chậm trễ hoặc ngừng thi công thường do không đủ hồ sơ, xây trái phép trên đất không quy hoạch, không phải “ngăn cấm tôn giáo.” Nếu tuân thủ quy hoạch, không lấn chiếm đất công… thì tổ chức tôn giáo vẫn được chính quyền ủng hộ làm thủ tục xây dựng nhanh chóng.

Những lễ hội như Đại lễ Phật Đản Vesak, Ngày hội Công giáo, Đại hội Tin Lành… có quy mô lớn, thường tổ chức tại các trung tâm tôn giáo mới mở rộng, cải tạo. Sự đa dạng này trái ngược luận điệu “đàn áp, thu hẹp không gian tôn giáo.”

Tóm lại, “chính sách hỗ trợ xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự” đã thể hiện thiện chítrách nhiệm của Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm tốt nhất quyền tự do tôn giáo, đặc biệt cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các luận điệu “đàn áp” hay “hạn chế tôn giáo” thiếu cơ sở, trái ngược với thực tế những công trình thờ tự khang trang, ngày càng rộng mở, và luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực từ chính quyền.

 

Tuesday, November 12, 2024

Phản bác luận điệu vu khống Việt Nam “buôn người,” “bỏ rơi lao động ở nước ngoài”

 


Thời gian qua, Bộ Ngoại giao Mỹ, một số tổ chức quốc tế về nhân quyền, hoặc các tổ chức phản động lưu vong (như BPSOS) thường đưa ra các cáo buộc một chiều rằng “Việt Nam buôn người,” “không bảo vệ lao động di cư,” hay “bỏ rơi người lao động ở nước ngoài,” v.v. Luận điệu này thiếu căn cứ, không phản ánh đúng thực trạng.

Thực tế, Việt Nam có khung pháp lý chặt chẽ, đầy đủ để phòng chống tội phạm mua bán người, bảo vệ quyền con người nói chung, và bảo vệ quyền lợi của người lao động nói riêng. Ngay tại các diễn đàn quốc tế, Việt Nam cũng được ghi nhận vì nỗ lực xây dựng, hoàn thiện pháp luật, cũng như chống mọi hành vi buôn người.

Luật Phòng, chống mua bán người (2011)văn bản chuyên ngành đầu tiên, đưa ra các quy định phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi mua bán người, quy định biện pháp phòng ngừa, điều tra, xét xử tội phạm; quy trình nhận diện, tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bộ luật Hình sự hiện hành quy định tội danh chi tiết, như Tội mua bán người (Điều 150), tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151). Nhiều tình tiết tăng nặng được bổ sung để xử lý nghiêm. Các văn bản luật này đều tương thích với Công ước LHQ. Việt Nam nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế, như Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em (Nghị định thư Palermo) của Liên Hợp Quốc.

Bên cạnh đó Nghị định 09/2013/NĐ-CP, Nghị định 62/2012/NĐ-CP quy định căn cứ xác định nạn nhân, bảo vệ an toàn cho nạn nhân và người thân; thủ tục đưa nạn nhân về nước, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng. Nghị định 94/2020/NĐ-CP (điều chỉnh một phần): hướng dẫn tổ chức bộ máy, trách nhiệm các cơ quan, qua đó tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về phòng chống mua bán người. Chính phủ ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người theo giai đoạn (mới nhất 2021-2025), giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ đạo 138/CP tổ chức thực hiện. Hàng loạt kế hoạch hành động, đợt cao điểm tấn công tội phạm mua bán người được triển khai trên phạm vi toàn quốc….Luật Việt Nam tương thích UNTOC (Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia) ghi nhận tội mua bán người là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, có quy định về hiệp đồng phối hợp quốc tế để truy bắt và đã ký các hiệp định tương trợ tư pháp và hợp tác với các quốc gia lân cận (Campuchia, Lào, Trung Quốc…) nhằm trao đổi thông tin, truy bắt tội phạm, giải cứu nạn nhân. Việt Nam là thành viên ACTIP (Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người) và đã “nội luật hóa” hầu hết nội dung ACTIP vào hệ thống luật quốc gia, bao gồm quy định hình sự hóa hành vi mua bán người, bảo vệ nạn nhân, phòng ngừa, hợp tác quốc tế…Tiến trình đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống mua bán người (2011) để phù hợp hơn nữa với ACTIP. Các quy định pháp luật nêu rõ: tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo quyền và lợi ích của nạn nhân bị mua bán, chống tái nạn nhân hóa. Chỉ có tội phạm mua bán người mới bị trừng trị, không có chuyện “đàn áp dân thường” như các thông tin xuyên tạc nêu.

Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 138/CP, từ 2012 đến 2023, hàng nghìn vụ mua bán người bị phát hiện, xử lý, hàng nghìn nạn nhân được giải cứu. Tình hình tội phạm có xu hướng giảm từ 2018 trở đi, số vụ mua bán người giảm đáng kể so với giai đoạn trước. Các địa phương tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập; trợ giúp pháp lý, y tế, tâm lý. Chính phủ có Chương trình hành động lồng ghép với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nhất là tại vùng sâu, vùng xa – nơi đồng bào dễ bị lôi kéo, lừa bán. Việt Nam ký các hiệp định với Lào, Campuchia, Trung Quốc… phối hợp phòng chống tội phạm, trao trả nạn nhân an toàn. Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam luôn bảo hộ công dân, can thiệp hỗ trợ khi phát hiện lao động bị lừa đảo, bóc lột, thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật quốc gia và quốc tế.

BPSOS và một số tổ chức chống đối lưu vong thường thổi phồng, gán ghép “nô lệ thời hiện đại” với lao động Việt Nam ở nước ngoài. Họ bỏ qua khung pháp lý, số liệu cứu hộ, hỗ trợ nạn nhân, chỉ trích bằng luận điệu xuyên tạc “chính quyền Việt Nam bán công dân”. Thực tế Việt Nam có chính sách bảo vệ công dân rõ ràng. Người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Các doanh nghiệp dịch vụ, cùng Chính phủ, ký kết hiệp định song phương để bảo đảm điều kiện, thu nhập, bảo hộ. Trường hợp bị môi giới lừa đảo, lao động gặp nạn, Chính phủ chỉ đạo cơ quan đại diện ngoại giao can thiệp, đưa về nước. Nhiều ví dụ thực tế ở Campuchia, Đài Loan, Trung Quốc… chứng minh không có chuyện “bỏ rơi”. Tội phạm mua bán người bị xử lý, chứ không dung túng, các bản án nghiêm khắc về tội mua bán người thể hiện quyết tâm không dung túng cho bất kỳ hành vi nào xâm phạm nhân phẩm, quyền con người. Đó cũng là cách Việt Nam “bảo đảm quyền con người thực sự,” không vì cớ tôn giáo, sắc tộc hay chính trị nào mà dung thứ việc xâm hại công dân.

Khung pháp lý phòng chống mua bán người ở Việt Nam (Luật Phòng, chống mua bán người 2011, Bộ luật Hình sự, các Nghị định…) toàn diện, rõ ràng, tương thích với Công ước, Nghị định thư quốc tế (UNTOC, ACTIP…). Việt Nam nỗ lực đấu tranh tội phạm mua bán người, hỗ trợ nạn nhân, ký kết các hiệp định quốc tế và nội vùng ASEAN. Nhiều vụ giải cứu nạn nhân, hỗ trợ hồi hương, minh chứng không có chuyện “bỏ rơi” lao động ở nước ngoài. Những cáo buộc từ Bộ Ngoại giao Mỹ, BPSOS hay tổ chức quốc tế thiếu thiện chí về “Việt Nam buôn người,” “phớt lờ công dân” là phiến diện, đánh tráo khái niệm, bỏ qua bằng chứng pháp lý, thực tiễn. Việt Nam khẳng định tiếp tục hoàn thiện pháp luật, không dung túng tội phạm, bảo vệ nhân phẩm, quyền con người, nhất là phụ nữ, trẻ em, lao động di cư – phù hợp chuẩn mực nhân quyền toàn cầu.

Tóm lại, khung pháp lý hoàn thiệnquyết tâm thực thi của Chính phủ Việt Nam trong phòng chống mua bán người là câu trả lời rõ ràng, phản bác mọi vu cáo “mua bán, bỏ rơi lao động.” Mọi luận điệu trái chiều thiếu thiện chí đều bị bằng chứng và thành tựu thực tiễn phủ nhận.