Friday, April 7, 2023

Vì sao Việt Nam đưa ra sáng kiến kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền ?

 


Tại Phiên họp Cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 27/2/2023 với sự tham dự của hơn 100 lãnh đạo cấp cao các nước, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã đưa ra sáng kiến về việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) bằng một văn kiện của Hội đồng Nhân quyền nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực, cũng như hành động nhằm đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.



Nghị quyết này tập trung vào tầm quan trọng của hai văn kiện và nhiều nội dung tích cực của tuyên ngôn và tuyên bố nêu trên như nhắc lại các nguyên tắc chính về quyền con người của hai văn kiện; phản ánh quan tâm rộng rãi của các nước trong việc kỷ niệm hai văn kiện; nâng cao vị thế, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc; nhấn mạnh vai trò hàng đầu của các quốc gia trong bảo đảm quyền con người; ghi nhận sự tham gia của phụ nữ, vai trò của hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng sự đa dạng, bao trùm... trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung và trong tham gia công việc của Hội đồng Nhân quyền nói riêng. Nghị quyết này cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm tuyên ngôn và tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của Liên hợp quốc về quyền con người vào tháng 12 và có Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới.

Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền đã chỉ rõ việc bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm của mỗi quốc gia với tư cách là chủ thể hàng đầu của quan hệ pháp luật quốc tế. Chính vì vậy, Tuyên ngôn đã xác định ngay trong nội dung đầu tiên của văn kiện rằng, LHQ “Công bố bản Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản Tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thổ bị giám hộ”. Là thành viên tích cực của LHQ, Việt Nam đã nhận thức rõ các yêu cầu và nội dung của Tuyên ngôn, ngày càng hoàn thiện thể chế và thiết chế để hiện thực hóa các quyền con người trong sự nghiệp đổi mới đất nước. 

 

Thứ nhất, về xây dựng thể chế. Quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là để phát triển thể chế thị trường hiện đại, văn minh, từng bước bảo đảm quyền lợi kinh tế, xã hội và văn hóa cho đại đa số thành viên xã hội. Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt Hiến pháp năm 2013, được xây dựng cơ bản trên cơ sở tiếp cận dựa trên quyền con người, là đạo luật gốc của nền pháp luật quốc gia hướng vào việc điểu tiết, thúc đẩy việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhà nước pháp quyền XHCN đang được tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thông qua cải cách hành chính nhà nước được tiến hành từ năm 2000 đến nay để xây dựng nền hành chính công phục vụ người dân và kiến tạo phát triển là nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân.

 

Thứ hai, về tuyên truyền, giáo dục quyền con người. Đến nay các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng về quyển con người, trước hết là Tuyên ngôn, đã được dịch ra tiếng Việt và phát hành rộng rãi. Từ những năm 1990, Việt Nam từng bước tiến hành giáo dục quyền con người cả trong và ngoài nhà trường. Thực hiện quyết định 03/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 7-1-1998, các tỉnh, thành phố đã thành lập các Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật và đã có nhiều hoạt động phổ biến, giáo dục về  quyền con người, nhằm nâng cao đáng kể sự hiểu biết và sự quan tâm rộng rãi trong cán bộ, nhân dân về các quyền con người. Trung tâm (nay là Viện) Quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1994 đã thúc đẩy việc biên soạn giáo trình, phổ biến kiến thức và tổ chức các lớp học tại chức, ngắn hạn cho cán bộ Trung ương và địa phương về quyền con người. Việc hình thành một số cơ sở đào tạo cao học về quyền con người trong những năm gần đây, đánh dấu một trình độ mới về giáo dục quyền con người ở Việt Nam

Ngày 5-9-2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân” theo Quyết định số 1309/QĐ-TTg. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan để triển khai thực hiện Đề án, đưa nội dung giáo dục quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo qui định của các văn kiện pháp lý quốc tế, vào sách giáo khoa và chương trình giảng dạy của trường phổ thông các cấp và giáo dục đại học. Chỉ thị số 34/TTg ngày 21-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào Chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục quyền con người nhằm tạo chuyển biến sâu rộng trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng về giáo dục quyền con người ở Việt Nam.

Thứ ba, về thực hiện nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Đến nay, Việt Nam đã gia nhập và ký kết 7/9 công ước cơ bản và hàng chục các điều ước quốc tế khác liên quan đến quyền con người. Việt Nam đã thực hiện tốt nghĩa vụ trình nộp và bảo vệ các báo cáo quốc gia thực hiện các công ước mà Việt Nam là thành viên. Trong năm 2023, Việt Nam đã bảo vệ Báo các quốc gia thực thi Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; hoàn thành và nộp Báo cáo thực thi Công ước về quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước chống tra tấn (CAT). Kết quả này đã được các Ủy ban theo dõi thực hiện công ước cũng như cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam cũng đã làm tốt việc phổ biến nội dung báo cáo thực hiện các công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa.

 

Việt Nam đã tiến hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, văn hóa và thông qua hợp tác quốc tế, đặc biệt sử dụng tối đa các tài nguyên sẵn có, nhằm thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền con người được công nhận trong trong pháp luật quốc tế và quốc gia.

 

Thực tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt đã duy trì liên tục việc cải thiện quyền về mức sống nhờ không ngừng đạt được mức tăng trưởng cao, mức bao phủ của bảo hiểm y tế rộng khắp, có tỉ lệ phụ nữ tham chính trong nhóm dẫn đầu thế giới, có chỉ số phát triển con người liên tục tăng và được xếp vào nhóm cao. Đồng thời, Việt Nam luôn tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền (thành viên Ủy ban quyền con người nhiệm kỳ 2001-2003, thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025...).

 

Với thành tựu đó, tại Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ. Việt Nam tự tin đưa ra sáng kiến tổ chức kỷ niệm 75 năm ra đời Tuyên ngôn này. Đây là hành xử nói đi đôi với làm cũng như thái độ xem việc thực hiện Tuyên ngôn nói trên với sự nghiêm túc, cầu thị của Việt Nam

 

 

Wednesday, April 5, 2023

Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết giải quyết bất bình đẳng, bảo vệ những người dễ bị tổn thương

 


     Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ, trong các phát biểu tại nhiều phiên họp, phiên thảo luận, đoàn Việt Nam luôn nhấn mạnh sự cần thiết giải quyết bất bình đẳng, bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Vì sao Việt Nam lại đề cao và nhấn mạnh yêu cầu này tại Hội đồng Nhân quyền LHQ khóa 52?



Nhóm người dễ bị tổn thương “có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác”. Như vậy, phạm vi xác định người dễ bị tổn thương khá rộng, phổ biến hiện nay bao gồm: phụ nữ; trẻ em; người khuyết tật; người sống chung với HIV hoặc nạn nhân của AIDS; người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn; người không quốc tịch; người lao động di trú; người thiểu số (về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo…); người bản địa; nạn nhân chiến tranh; người bị tước tự do, người cao tuổi; người đồng tính, song tính hoặc chuyển giới…

Tại Việt Nam hiện nay, văn bản luật duy nhất quy định về khái niệm người dễ bị tổn thương là Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013. Theo đó, “Đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu những tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo”. Khái niệm này có phạm vi khá hẹp khi chỉ trong giới hạn những nạn nhân dễ gặp bất lợi về thiên tai và những nhóm người được liệt kê cũng hẹp hơn so với chuẩn mực quốc tế.

Đồng thời, Việt Nam đã nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. BLHS năm 2015, đã nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế liên quan đến những nhóm người dễ bị tổn thương, và bảo vệ quyền của các nhóm người này, với tư cách là đối tượng tác động của tội phạm. Theo đó, hành vi phạm tội với nhóm người dễ bị tổn thương là dấu hiệu định tội, hoặc dấu hiệu định khung tăng nặng hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng tăng cường các biện pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, đặc biệt, có nhiều chính sách quan tâm đến nhóm người dễ bị tổn thương. Xin liệt kê những thành tựu đáng ghi nhận như:

Thứ nhất, bảo vệ quyền nhân thân đối với trẻ em. Nhà nước Việt Nam luôn cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em và tạo mọi điều kiện để trẻ em được thực thi đầy đủ các quyền của mình trong đó có nhóm quyền nhân thân, thể hiện trước hết qua các quy định của Hiến pháp (Điều 65) và một số văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Điện ảnh, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Tương trợ tư pháp. Đặc biệt, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em) đã cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Công ước quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không phân biệt đối xử và vì lợi ích tốt nhất của trẻ; trao cho trẻ em nhiều quyền hơn, đồng thời, đã và đang xây dựng được hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền trẻ em bao gồm: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Hội Cứu trợ trẻ em khuyết tật, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam. Hệ thống tổ chức của các cơ quan này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Thứ hai, bảo vệ quyền nhân thân đối với phụ nữ. Một trong những cam kết quan trọng và hành động thực chất của Việt Nam trong thời gian qua đó là cam kết vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, coi đó là một công cụ quan trọng để tiến tới công bằng và phát triển bền vững. Quan điểm này được thể hiện trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và nhiều văn bản pháp luật khác về bình đẳng giới. Việt Nam đang tích cực triển khai trên toàn quốc Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, nhiều chỉ tiêu đã đạt so với kế hoạch đặt ra. Quan điểm giới cũng được lồng ghép vào nhiều văn bản quốc gia quan trọng như Chiến lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, các chiến lược phát triển ngành... Hiện Việt Nam đang nỗ lực thực thi Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020. Việc hành động thực chất và quyết liệt của Nhà nước Việt Nam trong việc bình đẳng giới đối với phụ nữ đã tạo động lực để nhóm này tham gia, phát huy năng lực trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Phụ nữ hiện nay đã có vị thế nhất định, có tiếng nói, được tham gia vào nhiều công việc quan trọng... 

Thứ ba, bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm dân tộc thiểu số. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong vấn đề dân tộc là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng tiến bộ. Nguyên tắc này được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật như: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Luật Đầu tư, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Công nghệ thông tin, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Giáo dục, Luật Xuất bản, Luật Thanh niên, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Dạy nghề... Việc xây dựng hệ thống pháp luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm yếu thế này trong xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống các cơ quan, tổ chức tham mưu và giúp thực hiện các quyền nhân thân của người dân tộc thiểu số bao gồm Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Tư vấn dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam với phạm vi hoạt động ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được quan tâm giữ gìn và phát triển. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, di sản văn hóa vô giá của đồng bào dân tộc đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số đang được chú ý bảo tồn và ngày càng được sử dụng phổ biến hơn. Việt Nam có 30 dân tộc có chữ viết. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng 08 bộ giáo trình cho 08 thứ tiếng dân tộc thiểu số (Khơ-me, Chăm, Hoa, Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Thái và Mông), chính thức đưa vào dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc ở 25 tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao. Đài Truyền hình Việt Nam đã phát kênh VTV5 bằng 10 thứ tiếng dân tộc; Đài Tiếng nói Việt Nam đã tăng thời lượng phát sóng và sản xuất hơn 4.000 chương trình đặc biệt phát bằng 13 thứ tiếng dân tộc, giúp đồng bào dân tộc tiếp cận thông tin tốt hơn, thông qua đó, việc bảo vệ quyền nhân thân của họ cũng được bảo đảm hơn.

Thứ tư, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người khuyết tật. Hiện nay, Việt Nam có hơn 8 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 7,8% dân số[3]. Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Quan điểm này phản ánh quy định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong một số văn bản luật quan trọng như: Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em), Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công nghệ thông tin, Luật Người khuyết tật... Nhiều người khuyết tật nặng, thương binh, bệnh binh, người bị di chứng chất độc da cam, trong đó có trẻ em, được Nhà nước trợ cấp và nuôi dưỡng. Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng cho người khuyết tật đã được thiết lập từ trung ương đến cơ sở. Trong 10 năm qua, trên 300.000 người, trong đó có hàng chục ngàn trẻ em, được chỉnh hình phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí, được cung cấp phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe đẩy; hàng trăm nghìn người khuyết tật được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Việt Nam đang xây dựng mô hình giáo dục hòa nhập, chuyển đổi và thẩm định sách giáo khoa chữ phẳng sang chữ nổi Braille, xây dựng hệ thống ngôn ngữ ký hiệu, thống nhất hệ thống chữ cho người mù. Hàng năm, số trẻ khuyết tật đi học ở bậc trung học và bậc đại học đều tăng, nhiều học sinh khuyết tật đạt kết quả cao trong học tập. Cho đến nay có khoảng 100 cơ sở hướng nghiệp dạy nghề cho người khuyết tật và có khoảng 35.000 người khuyết tật được học nghề. Các công trình xây dựng công cộng, giao thông, văn hóa, thể dục thể thao đã được xây dựng, cải tạo để phù hợp hơn với chuẩn của người khuyết tật...

Thứ năm, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người lao động di trú. Lao động di trú là người lao động nước ngoài vào Việt Nam vì mục đích làm việc, kiếm thu nhập, đảm bảo “sinh kế” của họ và gia đình. Việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người lao động di trú này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu lao động các quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế mà cụ thể những quyền nhân thân “sát sườn” nhất đối với nhóm lao động này đó là quyền được làm việc, lao động, sáng tạo; quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cũng như được bảo vệ quyền cơ bản khác của con người bình đẳng giữa các quốc gia. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng được hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để hỗ trợ, bảo vệ quyền nhân thân cho nhóm lao động di trú này thông qua quy định trong Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, các quy chế bảo vệ công dân qua con đường ngoại giao, lãnh sự... Người lao động di trú được quyền tự do làm việc tại Việt Nam trên cơ sở nhu cầu sử dụng lao động từ người sử dụng lao động hoặc thông qua các dự án thầu có sử dụng lao động di trú[4], không có sự phân biệt đối xử trong quá trình làm việc, được trả lương bình đẳng và bảo đảm thu nhập như lao động Việt Nam, được tham gia các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đặc biệt là được tham gia đầy đủ các chế độ bảo đảm về cả vật chất và tinh thần cũng như quyền nhân thân của lao động di trú được ghi nhận. 

Thứ sáu, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người sống chung với HIV/AIDS. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để bảo vệ quyền nhân thân của nhóm này, như nghiêm cấm thái độ và hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào với người mắc HIV/AIDS. Điều 4 Luật Phòng, chống HIV/AIDS ghi “quyền được học văn hóa, học nghề, làm việc”, tương ứng với quyền về lao động việc làm và quyền bình đẳng trong tiếp cận với giáo dục. Quyền này cũng ghi rõ trong Điều 59 và Điều 55 của Hiến pháp năm 2013. Những người có HIV/AIDS rất cần được sự hỗ trợ của gia đình và xã hội. Nếu bị kỳ thị và phân biệt đối xử, họ gần như mất chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần, làm họ mất hết lòng tự tin và như bị dồn vào ngõ cụt. Ngay cả những đứa trẻ vô tội, ngây thơ cũng trở thành nạn nhân của sự kỳ thị và phân biệt của thế giới người lớn. Sau gần 30 năm thực thi các chính sách, cơ chế ưu tiên, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giảm số lượng người nhiễm mới, kéo dài thời gian sống cho người bệnh, xóa bỏ định kiến xã hội về HIV/AIDS, tăng cường phổ biến kiến thức về HIV/AIDS và phòng, chống HIV/AIDS tới cộng đồng dân cư, góp phần đẩy lùi tác động tiêu cực của HIV/AIDS lên cộng đồng, giảm nguy cơ tổn thương xã hội cho người bệnh cũng chính là tổn thương quyền nhân thân của họ.

Những thành tựu đó là không thể phủ nhận và là cơ sở để Việt Nam chia sẻ trên diễn đàn Hội đồng Nhân quyền LHQ, với mong muốn thảo luận, học hỏi kinh nghiệm cũng như vận động quốc tế ủng hộ, hỗ trợ Việt Nam ngày càng đảm bảo tốt hơn việc bảo vệ quyền nhóm người yếu thế này. Đây thể hiện thiện chí, trách nhiệm và nỗ lực đáng ghi nhận của Chính phủ Việt Nam hiện nay.

Tuesday, April 4, 2023

Sáng kiến của Việt Nam được đa số ủng hộ, ghi dấu ấn và được thông qua tại HĐNQLHQ

 

Trái ngược với những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cho rằng, Việt Nam tham gia vào Hội đồng nhân quyền LHQ nhằm che giấu những vi phạm nhân quyền hay nhằm gia tăng đàn áp nhân quyền, thì đây, thực tiễn những gì diễn ra tại Khóa họp thứ 52 của Hội đồng nhân quyền LHQ với nhiều đóng góp thiết thực, hiệu quả của Việt Nam là sự đáp trả mạnh mẽ cho những luận điệu xuyên tạc về vấn đề nhân quyền của Việt Nam.

Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna là sáng kiến của Việt Nam, được Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đề xuất tại phiên họp cấp cao mở đầu Khóa họp 52 của Hội đồng Nhân quyền tại Geneva ngày 27/02/2023.



Nghị quyết nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực cũng như hành động hướng tới đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của hai văn kiện quan trọng nêu trên, cũng như các cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.

Theo Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, Nghị quyết đã truyền tải đi nhiều thông điệp lớn và tích cực, đặc biệt là thông điệp về hợp tác và đoàn kết quốc tế, tôn trọng tính đa dạng, hoà hợp, qua đó giúp thúc đẩy đồng thuận, hoà hợp, hàn gắn và không khí hợp tác tại Hội đồng Nhân quyền, trong bối cảnh nhiều diễn đàn quốc tế thời gian qua bị chia rẽ sâu sắc, thậm chí bị chính trị hoá.

Việc Việt Nam đề xuất Nghị quyết này tại Hội đồng Nhân quyền rất kịp thời, đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về kỷ niệm và đề cao Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và Tuyên bố và Chương trình hành động Viên, hai văn kiện quan trọng về quyền con người, thể hiện vai trò Việt Nam là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền và cộng đồng quốc tế. 

Việc Nghị quyết được thông qua bằng đồng thuận, có sự đồng bảo trợ của 98 nước cho thấy Nghị quyết thể hiện sự quan tâm và ưu tiên chung của các nước và cộng đồng quốc tế, thu hút được sự hưởng ứng, tham gia ủng hộ của đông đảo các nước, được sự đánh giá cao của các bên. 

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh: "Đối với Việt Nam, việc chúng ta có sáng kiến và thúc đẩy thông qua Nghị quyết trên ngay trong Khóa họp đầu tiên trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 – 2025 là kết quả của những nỗ lực phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Bộ Ngoại giao, các Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài với các Bộ ngành hữu quan, cũng như vai trò thành viên hết sức chủ động, tích cực, có trách nhiệm, tiếp tục góp phần tạo dựng vị thế cho Việt Nam trong hợp tác với các nước trong và ngoài Hội đồng Nhân quyền trong cả nhiệm kỳ của ta thời gian tới. Điều này hoàn toàn phù hợp với phương châm tham gia của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền, đó là:“Tôn trọng và Hiểu biết. Đối thoại và Hợp tác. Tất cả quyền con người cho tất cả mọi người”."

Việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) sẽ góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức, quyết tâm và hành động của các nước thành viên và cộng đồng quốc tế trong hiện thực hoá các mục tiêu, tôn chỉ về quyền con người đề ra trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna. Đây cũng là đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền trong nhiệm kỳ lần thứ hai này.

Việc Việt Nam đề xuất, soạn thảo và được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) là bước đi mở đầu để Việt Nam tiếp tục thực hiện tốt Đề án “Việt Nam đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc” trong nhiệm kỳ 2023-2025. Đóng góp của Việt Nam trong nhiệm kỳ này, với các trọng tâm chính là: tích cực tham gia đóng góp vào công việc của Hội đồng Nhân quyền, cả về công tác chuyên môn và điều hành, điều phối; chủ động dẫn dắt thúc đẩy sáng kiến để thể hiện dấu ấn và phát huy lợi ích của Việt Nam, một lần nữa sẽ là sự đáp trả mạnh mẽ cho những luận điệu xuyên tạc về vấn đề nhân quyền của Việt Nam trên trường quốc tế.

Saturday, April 1, 2023

Việt Nam đã ghi dấu ấn tại Khóa họp thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ra sao?

 


Khóa họp thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (HĐNQ LHQ) diễn ra từ ngày 27/2 đến 4/4/2024 tại Geneva, Thụy Sĩ đã ghi nhận những thành tựu và đóng góp nổi bật của Việt Nam. Với vai trò Ủy viên HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đồng thời khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế.

Vai trò tích cực và chủ động:

Đoàn Việt Nam do Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang dẫn đầu đã tham dự Phiên họp cấp cao, khẳng định quan điểm nhất quán về tầm quan trọng của quyền con người. Việt Nam tích cực tham gia các phiên thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng vào các nghị quyết chung, thể hiện vai trò chủ động và trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đóng góp sáng tạo và thiết thực:

Điểm nhấn nổi bật là sáng kiến của Việt Nam về Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên. Nghị quyết nhận được sự đồng bảo trợ của 98 quốc gia, thể hiện sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Đây là thành quả quan trọng, góp phần khẳng định lại tầm quan trọng và giá trị của hai văn kiện quan trọng về nhân quyền.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia hiệu quả vào các hoạt động chung của Khóa họp, đóng góp ý kiến vào các báo cáo, thảo luận về các chủ đề như quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền người khuyết tật, v.v. Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm về bảo vệ quyền con người trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thể hiện tinh thần trách nhiệm và hợp tác quốc tế.

Ghi nhận và đánh giá cao:

Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã đánh giá cao vai trò và đóng góp của Việt Nam tại Khóa họp. Phó Cao ủy Nhân quyền LHQ Nada Al-Nashif bày tỏ ấn tượng trước những nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Các đại biểu quốc tế cũng khẳng định, Việt Nam là một Ủy viên HĐNQ LHQ năng động, trách nhiệm và đóng góp tích cực vào công việc chung của Hội đồng.

Kết quả:

Khóa họp 52 đánh dấu thành công của Việt Nam trên nhiều phương diện. Đây là minh chứng cho cam kết, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Thành công này cũng góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế về nhân quyền trong thời gian tới.

Ngoài những thành tựu nêu trên, Việt Nam cũng đạt được những kết quả cụ thể trong các lĩnh vực sau:

  • Giảm nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2015 xuống còn 6,7% năm 2020.
  • Giáo dục: Tỷ lệ biết chữ ở người từ 15 tuổi trở lên đạt 97,4%.
  • Y tế: Tuổi thọ trung bình đạt 73,6 tuổi.
  • Quyền trẻ em: Việt Nam đã thực hiện tốt Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em.

Với những thành tựu và đóng góp tích cực, Việt Nam đã khẳng định vị thế và vai trò ngày càng cao trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên trường quốc tế.

 

Wednesday, March 22, 2023

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam không để phục vụ nhân quyền ?

 


Trong thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước thường xuyên lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, chúng coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Đáng chú ý trên không gian mạng, chúng trắng trợn xuyên tạc ý nghĩa Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Chúng cho rằng Nhà nước Việt Nam ban hành Luật “không để phục vụ nhân quyền mà chỉ để phục vụ cho sự cai trị của đảng cộng sản…”. Những người đưa ra luận điệu trên chứng tỏ họ chẳng hiểu gì về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Cần phải khẳng định rằng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người. Điều này không chỉ được thể hiện rất rõ ràng trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà còn được quy định cụ thể trong hệ thống luật pháp của các quốc gia trong đó có Việt Nam.

Tại Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 16-12-1966 (Việt Nam đã tham gia Công ước này ngày 24-9-1982), ghi rõ: “1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng, tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo; 2. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng; 3. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức của công chúng hoặc những quyền tự do cơ bản của người khác.”

Trên cơ sở Công ước quốc tế và điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội lịch sử truyền thống của mỗi quốc gia, các nước trên thế giới đều ban hành những quy định pháp lý về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Trên thế giới không có nơi nào tín ngưỡng, tôn giáo đứng ngoài pháp luật, hoạt động theo kiểu tự do vô tổ chức mà đều có những hạn chế theo luật pháp quy định vì một nền trật tự an ninh chung, vì sức khỏe hay đạo đức cộng đồng hoặc vì sự bảo vệ các quyền và tự do của người khác.

Chẳng hạn ở châu Âu, Cộng hòa Pháp được xem là một trong những quốc gia có nhiều thành tựu về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đây cũng là quốc gia có hệ thống pháp luật đầy đủ và chi tiết nhất về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đạo luật ngày 09-12-1905 của nước này ghi rõ: “Nền Cộng hòa bảo đảm quyền tự do lương tâm, bảo đảm quyền tự do thực hành các việc thờ phụng với những hạn chế duy nhất được ban bố… vì lợi ích trật tự công cộng” (Điều I). Tại Điều 25 của Đạo luật trên cũng ghi: “Các cuộc hội họp để cử hành một việc thờ phụng được điều hành trong những trụ sở thuộc một hiệp hội tôn giáo… là công cộng. Chúng được đặt dưới sự giám sát của nhà chức trách vì lợi ích của trật tự công cộng”.

Tương tự ở châu Á, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là một nước có truyền thống tín ngưỡng, văn hóa lâu đời. Nghị định 145 ngày 31/01/1994 của nước này quy định: “Các nơi hoạt động tôn giáo phải đăng ký theo thể thức do Cục Tôn giáo Quốc gia ấn định. Các nơi đó không thể do người nước ngoài điều khiển. Các nơi thờ tự không được nhận tiền bạc của các tổ chức và cá nhân từ nước ngoài gửi về. Tiền bạc do người nước ngoài tặng hoặc dâng cúng phải được tiếp nhận theo luật pháp quốc gia… Nghị định 144 ngày 31/01/1994 của Trung Quốc cũng quy định: “Cấm người ngoại quốc không được thành lập các tổ chức tôn giáo và các cơ cấu phụ thuộc tôn giáo… không được hoạt động truyền đạo trong nhân dân trừ phi được phép của chính quyền. Cấm người nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc các sách, báo và tài liệu tôn giáo. Các tài liệu khác như sách tôn giáo, băng video, cát-sét tôn giáo thì được phép mang theo và chỉ sử dụng riêng cho bản thân”.

Còn ở Việt Nam, sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh chính sách “tín ngưỡng tự do và Lương, Giáo đoàn kết”. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cũng đã nêu rõ: “Mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng”. Đến bản Hiến pháp năm 1959, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được tái khẳng định và mở rộng hơn, trong đó quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều 26).

Sau khi đất nước thống nhất, Hiến pháp năm 1980 đã ghi: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 80). Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70).

Bước vào thời kỳ đẩy CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013, hiến định một cách toàn diện hơn các quyền chính trị, dân sự của người dân; trong đó quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện khá toàn diện và đầy đủ, đảm bảo dân chủ, tôn trọng và tạo điều kiện tốt nhất cho mọi người được thực hành tín ngưỡng và tôn giáo của mình. Điều 24 Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Hệ thống các văn bản pháp luật, pháp lệnh, chỉ thị về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam thường xuyên được chú trọng xây dựng và hoàn thiện nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa chủ trương, chính sách của Nhà nước về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với với các văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Có thể khẳng định rằng pháp luật Việt Nam hiện nay hoàn toàn phù hợp với những chuẩn mực quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này. Chính điều đó đã đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân phù hợp với Công ước quốc tế và ngang tầm với luật pháp của nhiều nước có nền pháp chế lâu đời. Nhà nước Việt Nam không những tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn giúp đỡ nhân dân thực hiện quyền lợi ấy. Đồng thời cũng như mọi quốc gia trên thế giới pháp luật Việt Nam sẽ trừng trị nghiêm khắc những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc làm những việc khác trái pháp luật.

Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo hộ cơ sở vật chất như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trường lớp tôn giáo; kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước ta vừa nghiêm cấm việc kỳ thị hoặc xúc phạm người có tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời cũng nghiêm cấm việc lợi dụng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lạm dụng tôn giáo để làm trái pháp luật. Nếu những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vi phạm nghiêm trọng pháp luật như gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, đến truyền thống văn hóa dân tộc… có thể bị đình chỉ. Quy định như vậy chính là đảm bảo cho những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được lành mạnh, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, đáp ứng những nhu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân, không bị các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với thuần phong, mỹ tục làm ảnh hưởng đến đời sống tâm linh, sức khỏe, nhân phẩm, tiền bạc của nhân dân…chứ hoàn toàn không phải chỉ để “phục vụ cho sự cai trị của đảng cộng sản…” như giọng điệu của các thế lực thù địch, phản động từng xuyên tạc, rêu rao./.

 

Tuesday, March 14, 2023

Phân biệt đối xử với người VNCH: luận điệu vu cáo trắng trợn của Trương Nhân Tuấn!

 


Ngày 12/02/2022, Trương Nhân Tuấn vừa  đăng trên Tiếng Dân News bài : “Tin lời cán bộ CSVN về sự hiện hữu của chính sách “hòa hợp, hòa giải dân tộc” là bán lúa giống”. Mục đích chính của bài viết là sự xiên xỏ để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài lung lay, hoài nghi về chính sách của chúng ta dành cho họ, Nhân Tuấn cho rằng Nghị quyết 36 cũng chỉ là những lời kêu gọi, hô hào không thực chất nên đừng nghe, đừng tin và đừng hết lòng…



Tuấn viết với một giọng điệu nghe cực kỳ xỏ xiên, mát mẻ rằng: “Làm gì có “tinh thần cởi mở” khi tuyên giáo CSVN luôn coi VNCH là “địch”. Làm gì có vụ “xóa bỏ định kiến”, xóa bỏ phân biệt giai cấp, thành phần xuất thân qua vụ 50 năm sau, cháu nội, cháu ngoại những người VNCH cũ vẫn bị xếp vào thành phần “địch”… Như chúng ta biết, sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều tiến bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Đã góp phần tích cực vào việc tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên người Việt Nam ở nước ngoài nâng cao ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương đất nước, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào nước sở tại. Đến nay, một bộ phận lớn bà con đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội nơi họ đang sống và làm việc. Tiếng Việt được sử dụng là ngôn ngữ chính của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài song hành cùng tiếng nói của nước sở tại. Bản sắc văn hoá, truyền thống dân tộc Việt Nam được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ tiếp theo. Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng nâng cao, thực sự là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là cầu nối quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước sở tại; đồng thời góp phần tích cực xây dựng quê hương, đất nước. Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết 36 thời gian qua còn một số hạn chế, bất cập. Việc ban hành và thực hiện một số cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài bảo tồn, phát huy bản sắc, truyền thống văn hoá của dân tộc và góp phần xây dựng đất nước còn chậm, chưa đồng bộ, kết quả còn hạn chế. Vì vậy Chỉ thị số 45-CT/TW, ra đời ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, năm 2004 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Sau thời gian thực hiện Chỉ thị 45, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đến nay có khoảng 5,3 triệu người sinh sống, làm việc trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó, hơn 80% là ở các nước phát triển; đại bộ phận đồng bào đã có địa vị pháp lý và cuộc sống ổn định, hội nhập sâu rộng vào xã hội sở tại. Dù ở bất cứ nơi đâu, đồng bào ta vẫn luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội nguồn dân tộc, là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là nguồn lực quan trọng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Với cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao, niềm tin của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng ngày càng được củng cố.

Những chuyển biến này là nhờ sự nỗ lực của chính cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với tấm lòng luôn hướng về quê hương, đất nước; sự vào cuộc tích cực của hệ thống chính trị và nhân dân cả nước. Tuy nhiên, công tác người Việt Nam ở nước ngoài còn một số hạn chế. Có nơi, có lúc công tác người Việt Nam ở nước ngoài chưa được các cơ quan, tổ chức quan tâm đúng mức; công tác nắm tình hình cộng đồng, tham mưu, kiến nghị và phối hợp triển khai chủ trương, chính sách chưa sâu sát, chặt chẽ và kịp thời; chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh của đồng bào ta ở nước ngoài.

Để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, thời gian tới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục được triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn, qua đó phát huy nguồn lực to lớn, tinh thần yêu nước của đồng bào ta ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước; nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc; đồng thời, thể hiện rõ hơn tình cảm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Để tiếp tục thực hiện tốt, hiệu quả hơn Nghị quyết 36, Chỉ thị 45 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp đề ra. Vì vậy Nhân Tuấn đừng chọc gậy bánh xe, đừng cố tình chia rẽ gây mất đoàn kết, làm ảnh hưởng đến tấm lòng của đồng bào xa quê dành cho đất nước và bôi xấu làm giảm giá trị các chính sách rộng mở, nhân văn, nhân ái của Đảng, Nhà nước dành cho người Việt Nam ở nước ngoài/.

 

Saturday, March 4, 2023

“Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân” là “mị dân”?

 


Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định mối quan hệ lợi ích của Đảng với lợi ích của Nhân dân, trong đó có lần Người khẳng định: “lợi ích của nhân dân tức là lợi ích của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”. Đây là giá trị lý luận đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc quan điểm chiến lược của Đảng, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng tiếp tục nhấn mạnh: “Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Đây là phát biểu chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng tại Hội thảo tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, diễn ra sáng 20/2/2023 tại TPHCM. Nêu lại và nhấn mạnh điều này, ông Võ Văn Thưởng tiếp tục thông điệp tới đại biểu tham gia hội thảo về một giá trị cốt lõi, một lý tưởng cách mạng cao đẹp, chi phối, định hình toàn bộ đường lối, chủ trương của Đảng trong 93 năm qua và mãi về sau.

 Thế nhưng, điều này lại khiến cho các thế lực tuyên truyền phản động lấy đó làm cái cớ bình luận chống cộng điên cuồng. Ngày 22/2/2023, trên trang mạng xã hội Thơibao.de, Lê Trung Khoa có bình luận xỏ xiên, nhằm vào phát biểu của ông Võ Văn Thưởng để bôi nhọ thanh danh của Đảng. Theo đó, Lê Trung Khoa tiếp tục phơi bày bản chất chống cộng điên cuồng, dùng mọi mánh khóe vơ váo, gán ghép, ngụy tạo thông tin, hòng đánh vào bản chất cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. Trung Khoa nói rằng, ông Võ Văn Thưởng nói “Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân” là “mị dân”, qua đó càng “lòi ra cả triệu vòi bạch tuộc”. Khoa còn buông lời chọc ngoáy thâm hiểm “tới đây ông Thưởng lên làm Chủ Tịch nước thì rồi còn mị dân cỡ nào”. Khoa vu khống trơ trẽn không chút ngượng mồm rằng “bản chất của cộng sản là vơ vét, bóc lột người dân bằng thuế nặng”, “cán bộ đảng lấy tiền của dân để làm giàu cho chính mình”, “bỏ mặc cho dân đói rách, khổ ải, chết chóc vì dịch bệnh”(?). Có lẽ Khoa chỉ có lăng kính đen khi nhìn đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam, nên mới nhìn gà hóa quốc như vậy. Hoặc là cái tâm đen của Khoa chỉ có máu thâm độc nên cứ thoi thóp nhịp đập đả phá sự tồn vong của chế độ. Khoa nói, ông Võ Văn Thưởng mị dân, còn Khoa thì lại kích động dân để phá nước. Khoa đem những chuyện rơm cỏ ngoài đồng hoang để chất đống, tưới dầu, châm lửa hòng đốt ngôi nhà chung của dân tộc.

Thực tế lịch sử trong 93 năm có Đảng lãnh đạo, mọi dẫn chứng đều cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. 

Thứ nhất, trong toàn bộ các Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng đều đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc là tối thượng; trong Điều lệ Đảng, luôn khẳng định sự bất di bất dịch mục tiêu tối thượng của Đảng là phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Thứ hai, trong mọi thời kỳ lịch sử, mọi giai đoạn cách mạng, mọi phong trào cách mạng, Đảng luôn xác định phải dựa vào lòng dân, sức dân, kết nối tinh thần cách mạng của muôn dân, đó là đòn bẩy cho cách mạng tiến lên, là thành trì giữ vững thành quả cách mạng. 

Thứ ba, Đảng ở vị thế cầm quyền, nhưng không coi mình là thế lực áp bức, thống trị, mà là nô bộc của nhân dân, phụng sự nhân dân, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo của chủ trương, đường lối, chính sách, với phương châm “điều gì có lợi cho dân thì dù khó đến mấy phải hết sức làm, điều gì có hại cho dân thì dù đén mấy cũng phải hết sức tránh”.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về sự kính dân, trọng dân, gần dân, đặt dân vào trung tâm của phát triển, nâng cao vị thế, vai trò làm chủ của nhân dân trong toàn bộ đời sống xã hội, tham gia tích cực vào đời sống chính trị, hiến kế vào các quyết sách của Đảng. Những hiện tượng, vụ việc, vấn “đi ngược lại” quan điểm của Đảng, bị các thế lực thù địch rêu rao là đảng “bóc lột” dân, đảng mị dân không phải là Đảng ta giấu diếm hoặc lừa phỉnh dân, mà thực chất là Đảng ta đã nghiêm túc “tự chỉ trích” từ lâu rồi. Ông Mác từng bộc bạch, đại ý rằng: những gì thuộc về con người đều không xa lạ đối với tôi. Như vậy, dù là người cách mạng, cũng vẫn luôn mang thuộc tính con người. Ông Lênin cũng thẳng thắn thừa nhận, chỉ có đến khi nhắm mắt, xuôi tay thì người ta mới không có khuyết điểm. Ông Hồ Chí Minh thì đã nhìn thấu nguy cơ tha hóa quyền lực, nên ngay sau khi thành lập Chính phủ cách mạng, Người đã sớm cảnh báo cán bộ, đảng viên đừng lên mặt “quan cách mạng” với quần chúng nhân dân, mà hãy làm tròn bổn phận công bộc của dân. Đồng thời Người cũng kêu gọi hiền tài trong dân ra giúp chính phủ cứu nước. Biết bao tấm gương trí thức Việt kiều đang có tương lai tươi sáng ở nước ngoài đã tự giác trở về phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đúng là thực tế đời sống chính trị, xã hội ở nước ta hiện nay đang phát sinh nhiều điều phức tạp, nhạy cảm chính trị, gây bất bình lòng dân, làm tổn hại đến thanh danh của Đảng, tự “bôi mỡ vào chân” cho đàn kiến lửa chống cộng bâu vào đốt. Nhưng Đảng ta đã dũng cảm tự nhận diện những căn bệnh xa rời lý tưởng cách mạng, thoái hóa đạo đức, tha hóa lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức có quyền. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang được Đảng đẩy mạnh thực sự là một cuộc thanh lọc giá trị đạo đức, văn minh, lấy lại thanh danh của Đảng trong lòng dân. Tuy nhiên, không chỉ đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, mà Đảng còn chú trọng tới phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nền tảng văn hóa dân tộc, xây dựng con người có khát vọng dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, củng cố, tăng cường vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Những chỉ số tăng trưởng, phát triển của Việt Nam trong gần nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII đều là những con số biết nói về một Việt Nam năng động, sáng tạo, được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, đâu phải tự mình “vẽ ra thành tích”. Đảng đâu có đứng ngoài lề sự phát triển của đất nước, Đảng không “vơ vào” cho mình về công trạng, mà Đảng luôn đề cao vai trò của nhân dân. Tiền đồ đất nước đang tươi sáng, song Đảng không hề kiêu ngạo, tự mãn, vì rằng phía trước còn muôn vàn bão táp, phong ba thời cuộc. Đảng biết, muốn vượt qua thử thách thời đại thì chỉ có một phương thức là dựa vào lòng dân, đại đoàn kết toàn dân tộc. Mà lòng dân thì không thể bồi đắp bằng những câu khẩu hiệu sáo rỗng, chỉ có thể bồi đắp bằng cơ chế, chính sách đi vào lòng dân, mang lại cơm no, áo ấm cho dân, mang lại cơ hội học hành, làm việc, sinh sống cho họ và con cháu họ, chăm lo sức khỏe cho họ, cứu trợ khi họ lâm nguy, tôn vinh, ghi nhớ công ơn của những người dám xả thân vì nước.

Thế nên, những trò bịp bợm, đánh bùn thành phân của Lê Trung Khoa và những kẻ đồng đảng tuyên truyền chống cộng, rốt cuộc cũng chỉ là những cái vòi bạch tuộc bám vào bãi rác giữa đại dương chính trị, đâu có lừ phỉnh, kích động được người dân yêu nước, thương nòi, khát vọng trường tồn dân tộc.