Tuesday, October 4, 2022

Lợi dụng vấn đề tôn giáo để xuyên tạc về chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số

 


Thời gian qua, thành phần phản động trong dân tộc ở Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên liên tục lợi dụng việc chính quyền ngăn chặn một số tà đạo, tổ chức tôn giáo bất hợp pháp như Tin Lành Đấng Christ, Dương văn Mình, Hà Mòn, Bà Cô Dợ, Giê Sùa,..đẻ vu cáo, xuyên tạc, kích động, chia rẽ đoàn kết dân tộc, tung tin rằng người Kinh đàn áp, tận diệt tín ngưỡng, đời sống tinh thần, vật chất của đồng bào DTTS, bất chấp những thành quả vượt bậc trong thực hiện chính sách dân tộc nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chống phá bằng nhiều thủ đoạn công khai, trực diện, hòng hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.


 

Chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những thủ đoạn cơ bản, xuyên suốt mà các thế lực thù địch ra sức chống phá đối với cách mạng nước ta. Đây là vấn đề không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, bởi nó đánh vào nền tảng sức mạnh tổng hợp của toàn dân và đất nước, làm suy yếu nước ta từ bên trong, tạo sự ly khai, cát cứ trên từng khu vực, địa bàn, nhất là trên các địa bàn chiến lược, gây sự bất ổn định về chính trị,... để dễ bề kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng ra sức lợi dụng những khó khăn, bức xúc của đồng bào các dân tộc trong cuộc sống; lợi dụng những yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội chính trị,... để xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thành tựu công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước nói chung, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, bằng nhiều thủ đoạn ngày càng công khai và trực diện hơn. Gần đây, lợi dụng những khó khăn của đồng bào, nhất là ở những nơi bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, dịch bệnh,... chúng đẩy mạnh các luận điệu vu khống xuyên tạc, rằng: “Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!). Đây là sự vu khống, bịa đặt một cách trắng trợn, lố bịch, không thể chấp nhận được, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, trên cơ sở tiếp thu quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc; coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng, các dân tộc đều bình đẳng, tôn trọng, cùng nhau phát triển: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”1. Kế thừa tư tưởng đó, trong tất cả các văn kiện Đại hội Đảng, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn xác định, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”2. Quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp của Nhà nước ta. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định rõ: “1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Nhằm làm cơ sở cho thực hiện tốt chính sách dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành nghị quyết riêng (Nghị quyết số 24 ngày 12/3/2003) về Công tác dân tộc. Cùng với đó, Quốc hội đã ban hành các luật khung và luật chuyên ngành nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền cũng như chính sách hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số. Riêng từ năm 2010 đến nay, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 118 văn bản chính sách; 54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó có các nhóm chính sách: về giảm nghèo bền vững; giáo dục, đào tạo; y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số, miền núi và nhóm chính sách, cơ chế đặc thù về truyền thông và tuyên truyền vận động, phổ biến giáo dục pháp luật, v.v. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1719/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Điều đó thể hiện sự nhất quán, quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự phân biệt đối xử như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Thành tựu về thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là không thể phủ nhận. Theo đó, công tác phát triển giáo dục, đào tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những tiến bộ; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Với chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những năm qua, quy mô, mạng lưới trường, lớp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số được học tập, ăn ở tại trường. Triển khai Đề án củng cố phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đã có nhiều lớp học, phòng phục vụ học tập được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới. Hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú ngày càng được nâng lên qua từng năm học. Trường phổ thông dân tộc bán trú đã được thành lập ở 28 tỉnh, với quy mô 1.097 trường và 185.671 học sinh. Tỷ lệ học sinh bán trú hoàn thành cấp tiểu học đạt 98,9%; cấp trung học cơ sở đạt 92%. Có 15,2% số trường phổ thông dân tộc bán trú được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2011 - 2015, Nhà nước đã đầu tư khoảng 135.000 tỉ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước3) giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng dân tộc thiểu số và miền núi khá cao, giai đoạn 2016 - 2018 đạt bình quân 07% và tăng dần hằng năm. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm, bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 04%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn, giảm trên 04%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm trở lên. Giai đoạn 2015 - 2019, đã có 08/64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát nghèo; 14/30 huyện nghèo hưởng cơ chế theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của chính phủ thoát khỏi tình trạng khó khăn; 124/2.139 xã, 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135. Từ năm 2013 - 2020, bộ mặt nông thôn cả nước nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng được đổi thay rõ rệt; thu nhập và điều kiện sống của người dân được cải thiện và nâng cao. Đồng thời, Chính phủ tập trung xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chủ yếu là đường giao thông, nhất là đường giao thông đến trung tâm các xã hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng; hệ thống điện, thủy lợi, cầu dân sinh, cầu treo, các công trình nước sạch, trường, lớp học, trạm y tế, nhà văn hóa, mạng lưới chợ, tạo thuận lợi có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nhiều trường, lớp học, trạm y tế xã được xây dựng mới, kiên cố hóa; trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học, khám chữa bệnh được đầu tư mới. Đến nay, 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100% xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo; 99,3 % xã có trạm y tế; 65,8% số xã và 76,7% số thôn có nhà văn hóa hoặc nhà sinh hoạt cộng đồng.

Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là “các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”, trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Để thực hiện chủ trương này, ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” với nội dung tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người. Nhờ đó, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước được bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Hiện nay, hầu hết các xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh, truyền hình địa phương đều có các chương trình bằng tiếng dân tộc, phù hợp với từng vùng, miền. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, như: quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; cả nước có hơn 30 tỉnh, hơn 600 trường tổ chức dạy, với hàng trăm nghìn học sinh theo học tiếng dân tộc. Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo; đa số người dân theo các tôn giáo sống tốt đời đẹp đạo, tuân thủ pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Có thể khẳng định rằng, với hệ thống chính sách dân tộc được hoàn thiện, trên thực tế các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được bình đẳng về chính trị, văn hóa truyền thống được bảo tồn; chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân được bảo đảm, đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn được cải thiện. Đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, là những minh chứng hùng hồn phản bác lại luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!) của các thế lực thù địch.

 

Monday, October 3, 2022

Sự hoang tưởng của kẻ cầm đầu tà giáo Bà Cô Dợ

 

 Giống như nhiều tà giáo khác, đạo “Bà Cô Dợ” chứa vô số điều huyễn hoặc, hoang tưởng đến khó tin, là sản phẩm mê tín dị đoan rõ ràng.



Dù về hình thức là tôn giáo có tên Hội Thánh Đức Chúa trời yêu thương chúng ta, nó không có hiến chương, điều lệ rõ ràng. Đối tượng Vừ Thị Dợ chỉ lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền con trai út Cứ Nu Si Lông chính là Chúa Giê Su tái thế, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm. Vừ Thị Dợ còn tự nhận mình là người được Chúa Trời chọn để tái lâm lần thứ 2; không phải đóng 10 % thu nhập, ai tin theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền.

 

Ví dụ điển hình về sự phản khoa học của tà giáo này là giữa lúc dịch bệnh Covid-19 hoành hành, tước đi sinh mạng vô khối người trên thế giới thì những kẻ cầm đầu “Bà Cô Dợ” lại tuyên tuyền “Không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại sức khoẻ cho con người”. Đồng thời, hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine phòng COVID-19.

 

Các đối tượng cầm đầu tuyên truyền các nội dung thiếu khoa học như “trái đất sẽ bị huỷ diệt” “ngày tận thế” có liên quan đến dịch COVID 19,... Nội dung tuyên truyền là “Chúa sẽ làm cho trái đất nổ tung hết, sẽ làm cho con người bị diệt vong hết; làm cho trái đất khô cằn, làm cho con người chết dần. Lý do Chúa hủy diệt trái đất là vì con người không làm theo lời của Chúa, không theo ý Chúa, khi Trái đất bị hủy diệt là lúc mà Chúa quay về, cây cối sẽ bị khô héo hết, giống như dịch bệnh COVID-19. Và hiện nay, như mọi người đã biết các quán karaoke, chợ lớn... đều đóng cửa hết, con người không đi lại được, niềm vui của con người sẽ không còn, bây giờ mới là bắt đầu thôi”.

 

Mặt khác, các đối tượng cho rằng: “Các thành phố sẽ trống rỗng, con người sẽ bị kẹt lại ở trong nhà, không có ai đến mở cửa được. Như mọi người đã thấy, hiện nay có dịch bệnh, họ (chính quyền) đã khóa con người ở trong nhà không đi đâu được, như các địa phương có dịch bệnh không đi mưa thực phẩm được. Cái này mới chỉ là bắt đầu thôi mà đã mạnh như thế này, khi mà có “khó khăn” (nghĩa là có cái gì đó lớn hơn dịch bệnh này) thì trái đất sẽ bị hủy diệt vấn đề này xảy ra ở tất cả các dấn tộc, chứ không riêng người Mông giống như một vụ thu hoạch. Chúa sẽ về thu hoạch sản phẩm của mình, đó là những người theo Chúa (những người theo “Bà Cô Dợ” sẽ được cứu sống) nên bây giờ Chúa mới cho “người mẹ ” về đây cho con người đến với Chúa. Những người ở phía mặt trời lặn gào thét trong sự sung sướng, đó là ở Mỹ và Châu Âu; những người ở phía mặt trời mọc sẽ cảm ơn Chúa, đó là ở Việt Nam, Lào, Thái Lan; những người sót lại sẽ có niềm vui, những người sót lại là những người đến với Chúa (theo Bà Dợ), Chúa sẽ chọn những người sót lại. Trái đất sẽ bị nổ tung thành từng mảnh; Chúa sẽ gom hết con người trên trái đất vào nhốt trong cái hố sâu, hết 1.000 năm Chúa mới phán xét cho. Mặt trời sẽ ngừng sáng, mặt trăng sẽ tối và Chúa sẽ là người cai quản, đó là Chúa Nu Long…”.

 

Những luận điệu tuyên truyền phản khoa học trên thay lời muốn nói thêm một lần nữa khẳng định, hiện tượng mang màu sắc tôn giáo có tên gọi “Bà Cô Dợ” đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của chính đồng bào Mông, đi ngược lại mong muốn phát triển, xâm hại trực tiếp truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Mông. Đó là hành vi của những kẻ mưu đồ chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền nhân dân, gây chia rẽ đại đoàn kết dân tộc. Hệ lụy cho những ai đi theo nó là vô cùng lớn.

 

Mong rằng, xã hội vào cuộc tích cực cảnh báo người dân, đồng bào dân tộc Mông đừng để bị chúng lừa bịp bằng sự xảo trá, bệnh hoạn.

 

Sunday, October 2, 2022

Quá trình hình thành tà đạo Dương Văn Mình và dã tâm thâm hiểm

 

Sau khi mãn hạn tù (1995), ý định tìm kiếm một tôn giáo mới hay một “cách cúng mới” cho người Mông vẫn đeo đẳng Dương Văn Mình. Vì vậy, năm 1997, ông ta và các cộng sự về huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng bí mật chuẩn bị cho ra mắt “đạo lạ Dương Văn Mình”. Đồng thời, Mình hai lần cử người về Tổng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Bắc) ở số 2 Ngõ Trạm, Hà Nội tìm sự hậu thuẫn, nhưng đều bị Tổng hội từ chối, không công nhận cách cúng mới của Dương Văn Mình thuộc Hội Thánh Tin Lành.



Năm 2000, Dương Văn Mình trở lại thôn Ngòi Sen, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tổ chức 4 cuộc họp để chuẩn bị cho việc ra mắt tôn giáo mới. Cuộc họp thứ nhất vào tháng 3 năm 2000, Dương Văn Mình hối thúc các cộng sự làm đơn gửi các cấp chính quyền xin ra mắt “tôn giáo” của mình với tên gọi: “Tín ngưỡng Dương Văn Mình là tín ngưỡng duy nhất và mãi mãi về sau”.

Cuộc họp thứ hai vào tháng 5 năm 2000, Mình yêu cầu các cộng sự viết đơn xin tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập.

Cuộc họp thứ ba vào tháng 10 năm 2000, Mình phân công người phụ trách địa bàn “truyền đạo” ở tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên và người chuẩn bị cơ sở vật chất cho ngày “khai đạo”15 .

 Cuộc họp thứ tư vào tháng 11 năm 2000, Mình lập tổ chức và nhân sự của “đạo”, do Dương Văn Mình đứng đầu. Tổ chức của “đạo” bao gồm: ở cấp Trung ương có Ban Tổng quản, đứng đầu là Tổng quản trưởng; Ban Bảo vệ; Ban Thanh niên; Ban Soạn thảo văn bản; Ban Phụ nữ; Ban Phụ lão. Mỗi thôn, bản do trưởng thôn, phó thôn phụ trách, có trưởng ban tín ngưỡng, bí thư thanh niên, hội trưởng phụ nữ, phụ lão. Các ban ở Trung ương và cơ sở đều do Dương Văn Mình phân công nhân sự cụ thể. Ban Soạn thảo văn bản đã soạn thảo một số văn bản, trong đó có Bản Quy ước về quản lý an ninh gồm 7 phần, 21 điều16 . Mục đích là để kiểm soát người ra vào thôn Ngòi Sen, nơi thường trú của Dương Văn Mình. Họ còn sáng tác bài hát cho ngày lễ “ra mắt”17 .

Trong tháng 12 năm 2000, Dương Văn Mình đã liên tiếp gửi đơn lên Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, huyện Hàm Yên và xã Yên Lâm đề nghị công nhận “Tín ngưỡng Dương Văn Mình là tín ngưỡng duy nhất và mãi mãi về sau”. Ngày 15 tháng 12 năm 2000, Dương Văn Mình viết thư gửi Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; Tổng Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị xem xét: 1) Tín ngưỡng tự phát mang biểu tượng cây Thập ác (nguyên bản) của Dương Văn Mình thuộc về tín ngưỡng nào; 2) Cách giải quyết tập trung lực lượng gây sức ép áp đảo bà con người Mông; 3) Yêu cầu giải quyết vụ này trong vòng 4 ngày. Trong đó, Dương Văn Mình khẳng định: ông ta không có tội, nếu chính quyền cho rằng ông ta có tội thì phải công khai chứng minh; việc gọi hỏi Dương Văn Mình phải tiến hành ở nhà ông ta với sự chứng kiến của người thân và bà con người Mông; xin được theo Tín ngưỡng Dương Văn Mình là tín ngưỡng duy nhất và mãi mãi về sau. Ông ta tự nhận mình là “giáo chủ”, vì “năm 1995 tôi được ban làm người dạy dỗ dìu dắt nhân dân”; năm 1997 đi tu và bây giờ (2000) trở về quê hương để tiếp tục làm công việc của mình và sẽ hoàn thiện vào cuối năm 2000.

Sự xuất hiện của Dương Văn Mình vào năm 2000 tuy đột ngột, nhưng công khai xin thành lập một tôn giáo mới không còn gắn với việc “xưng vua, đón Vàng Chứ” như trước đây nữa. Việc này được Mình và các đồng sự chuẩn bị một cách công phu, chu đáo qua nhiều năm. Trong đơn xin lập tôn giáo mới của mình, Dương Văn Mình và các cộng sự lý giải rằng, tín ngưỡng này phù hợp với nguyện vọng của đồng bào, đem lại lợi ích cho dân, là một tôn giáo “chân chính”, “rất tôn giáo”, rất tốt, nó xóa bỏ mê tín dị đoan, không dạy điều xấu, không chống Đảng, chống Nhà nước mà dạy người Mông thấy được “con đường tốt”; Dương Văn Mình là một người tốt, nó dạy con đường làm ăn tốt, đi con đường đúng, nó không tranh giành với Nhà nước, với Đảng mà chỉ giúp Nhà nước, giúp Đảng mà thôi và chẳng có dính líu gì với đạo Vàng Chứ cả. Trong một bức thư, cộng sự của Dương Văn Mình khẳng định: “Dương Văn Mình đã có nhiều lời khuyên tốt đẹp, làm cho bà con có tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và đoàn kết rộng rãi; tôi nhận thấy sự việc của Dương Văn Mình là phù hợp với tâm tư và nguyện vọng của chúng tôi; Chúng tôi tự nguyện nhận lấy tín ngưỡng của ông Dương Văn Mình làm tín ngưỡng duy nhất cho chúng tôi kể từ năm 2001 trở đi và mãi mãi về sau” .

Như vậy, Dương Văn Mình lần này xuất hiện không phải là Vàng Chứ hay Chúa Giêsu mà là một con người bằng xương, bằng thịt cụ thể, nhưng có khả năng và sức mạnh siêu nhiên. Nó được một bộ phận người Mông Trắng tin theo, đón nhận, xem đó như một “cái lý mới”, một “cách cúng mới” của mình.

Sự tái xuất hiện của cái gọi là “tín ngưỡng Dương Văn Mình” lần này được chuẩn bị và tổ chức chu đáo hơn. Theo kế hoạch, Dương Văn Mình dự định làm lễ “lên ngôi” (lễ lên ngự trên chiếc ghế đặt trên ban thờ) trước đông đảo “tín đồ” vào cuối tháng 12 năm 2000 hoặc đầu tháng 1 năm 2001, nhưng bị chính quyền dẹp bỏ.

Tháng 3 năm 2001, Dương Văn Mình bỏ đi, nhưng “tín ngưỡng” mà ông ta dự định lập nên vẫn tiếp tục tồn tại, được nhiều người Mông Trắng tin theo.

Tháng 9 năm 2001, một số cộng sự của Dương Văn Mình ở xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang làm đơn gửi đến chính quyền xã, huyện, tỉnh đề nghị trả lại bàn thờ, ghế mây, băng rôn đã bị thu giữ năm 2000 và xin tổ chức ra mắt “đạo Dương Văn Mình”, nhưng không được chấp nhận.

Tháng 5 năm 2007, Đào Đình Hoãng tổ chức “lễ kỷ niệm” sinh nhật lần thứ 6 ngày “khai đạo” Dương Văn Mình tại xã Yên Lâm, Hàm Yên, Tuyên Quang tuyên bố Dương Văn Mình sẽ trở về làm cho những người theo đạo có cuộc sống sung sướng và sẽ có người nước ngoài ủng hộ,... nên đã có khoảng 2.000 người Mông, chủ yếu ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn về tham dự.

Tháng 9 năm 2007, những người theo Dương Văn Mình ở Tuyên Quang, Cao Bằng làm đơn gửi chính quyền các cấp xin phép được xây dựng “nhà đòn” (nơi để đồ tang lễ). Từ đây, xuất hiện biểu tượng mới - nhà đòn - gắn với các linh vật gồm con én, con cóc, con ve và cánh cung cây tượng trưng cho cây thánh giá, trở thành dấu chỉ mang tính “hồn cốt” của hiện tượng Dương Văn Mình, đánh dấu bước rẽ quan trọng của hiện tượng này theo một cung cách mới, một “cách cúng mới” của người Mông. Cũng từ đây, hiện tượng Dương Văn Mình hoạt động gắn với biểu tượng nhà đòn và phát triển, lan rộng trong cộng đồng người Mông Trắng cho đến nay đã có trên 7.700 người theo ở trên 100 thôn bản, thuộc các tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lào Cai.

 Người khai đạo - giáo chủ Dương Văn Mình, được tín đồ nhìn nhận không phải là một vị thần thánh mà là một con người biết dạy “con đường ăn, con đường uống cho tất cả con người, là người dạy điều tốt, vừa lòng tất cả, hợp lòng tất cả thích,... dạy đường tốt, đường đúng, lời khuyên tốt đẹp, làm cho bà con thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và đoàn kết rộng rãi; việc làm của Mình là phù hợp với tâm tư và nguyện vọng” của họ. Như vậy, Dương Văn Mình được một bộ phận người Mông Trắng tin theo, xem đó như một vị “thủ lĩnh” tinh thần, không chỉ dạy cho họ biết “cách cúng mới”, biết đi con đường đúng, làm điều tốt đẹp mà còn dạy cho họ biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau đoàn kết làm điều tốt. Ông ta đã trở thành một hình tượng, một vị “cứu tinh” cho một bộ phận người Mông Trắng trên con đường hiện đại hóa tín ngưỡng truyền thống, từ bỏ tín ngưỡng đa thần với nhiều hủ tục nặng nề để đi tìm một “cách cúng mới”, “cái lý mới” cách tân, giản tiện và tiết kiệm tiền bạc hơn, phù hợp với xã hội hiện đại, song vẫn không xóa bỏ hoàn toàn tín ngưỡng truyền thống, tâm thức tôn giáo tộc người.

Thời điểm xuất hiện Hiện tượng Dương Văn Mình xuất hiện năm 1987, đây là thời điểm một bộ phận người Mông có sự chuyển đổi niềm tin tôn giáo từ bỏ tín
ngưỡng truyền thống sang theo đạo Tin Lành dưới tên gọi Vàng Chứ. Đây cũng là thời kỳ Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện tình hình kinh tế-xã hội khủng hoảng sâu sắc, đời sống nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng người Mông vô cùng khó khăn, tạo điều kiện cho tôn giáo phục hồi, hiện tượng tôn giáo mới, trong đó có hiện tượng Dương Văn Mình ra đời và phát triển.

Sau hơn 30 năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn, song hiện tượng Dương Văn Mình vẫn tồn tại và phát triển bất chấp sự phản đối của chính quyền, của những người Mông theo tín ngưỡng truyền thống và của các hệ phái Tin Lành . Địa bàn phân bố và cộng đồng những người tin theo Hiện tượng Dương Văn Mình xuất hiện đầu tiên ở Tuyên Quang, sau đó lan ra các địa bàn có người Mông Trắng sinh sống. Cho đến nay hiện tượng này đã phát triển và phân bố ở 5 tỉnh: Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lào Cai (từ 2014). Đây là địa bàn vùng núi, vùng xa biên giới, vùng dân tộc thiểu số, kinh tế thấp kém, đời sống nhân dân có nhiều khó khăn. Địa bàn Dương Văn Mình “khai đạo” là vùng đất mà Mình và một số tín đồ mới di cư từ nơi khác đến. Trước đây, Dương Văn Mình ở bản Xí Điêng, xã Thượng Thôn, Hà Quảng, Cao Bằng; thời kỳ chiến tranh biên giới Việt-Trung, thực hiện chính sách di dân, Dương Văn Mình cùng gia đình di cư, chuyển về sinh sống tại xã Yên Lâm, Hàm Yên, Tuyên Quang. Hầu hết những người di cư đến vùng đất mới đều thiếu hoặc không đất sản xuất nên đời sống của họ rất khó khăn. Những người theo Dương Văn Mình chủ yếu là người Mông Trắng di cư. Nhưng đó là một “cộng đồng tín đồ xác định, là những người tự nguyện, có chung một niềm tin vào tôn chỉ, lời dạy của giáo chủ” và không ngừng tăng lên, mặc dù không nhiều như các hệ phái Tin Lành khác.

Sau khi Dương Văn Mình bị xử phạt tù (1990), một nhóm người Mông ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên vẫn tiếp tục theo “cách cúng mới”, một nhóm chuyển sang theo đạo Tin Lành. Tính đến thời điểm năm 2001, có 5.121 người Mông ở 33 xã, 16 huyện thuộc 4 tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên theo Dương Văn Mình . Đến tháng 3 năm 2010, tỉnh Bắc Kạn có 56 hộ, 321 người Mông theo với 3 nhóm ở 3 huyện. Tỉnh Cao Bằng có 338 hộ, 1.766 người theo, 15 điểm nhóm tại các huyện: Bảo Lâm, Hà Quảng, Hòa An và Trà Lĩnh30 . Năm 2014, tỉnh Cao Bằng có 8 bản của 3 xã ở huyện Bảo Lâm và Hà  Quảng; tỉnh Tuyên Quang có 2 thôn bản ở huyện Hàm Yên và Yên Sơn; tỉnh Bắc Kạn có 2 thôn bản ở Bắc Nậm, Chợ Mới; tỉnh Thái Nguyên có 1 thôn bản ở huyện Võ Nhai theo Dương Văn Mình. Vào lúc cao điểm, ở huyện Võ Nhai có 56 hộ, trên 300 người; huyện Đồng Hỷ có trên 120 hộ với gần 550 người Mông theo Dương Văn Mình. Đến năm 2016, hiện tượng Dương Văn Mình có 1.352 hộ, 7.701 người, 95 cốt cán tích cực ở 101 thôn, bản thuộc 50 xã, 17 huyện, 5 tỉnh (Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Lào Cai). So với năm 2015, tăng 149 hộ, 734 người, 14 cốt cán (tăng 12,39% số hộ, 10,54% số người và 7,28% cốt cán); tổng cộng cả 3 năm (2013-2015) tăng 21% về số người.

Đa số những người theo Dương Văn Mình là người Mông Trắng di cư vì nhiều lý do khác nhau. Như trường hợp những người Mông ở Bắc Kạn di cư từ Cao Bằng sau chiến tranh biên giới năm 1979, họ “đã phai nhạt các giá trị văn hóa truyền thống, không hiểu biết nhiều về phong tục, tập quán cũng như những sinh hoạt tôn giáo truyền thống của đồng bào mình” . Hơn nữa, người Mông chưa từng theo tôn giáo nào. Tín ngưỡng đa thần truyền thống của họ chủ yếu là thờ cúng tổ tiên, thờ ma nhà, ma bản với nhiều lễ tục rườm rà, tốn kém, nặng nề. Thời điểm Dương Văn Mình “khai đạo” trùng với thời điểm trong cộng đồng người Mông đang có sự chuyển đổi niềm tin, từ bỏ tín ngưỡng đa thần truyền thống sang theo tôn giáo nhất thần, nhất là đạo Tin Lành. Do tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ ma nhà, ma cửa với nhiều lễ tục lạc hậu, rườm rà, tốn kém, người dân khi nghe tuyên truyền về “cách cúng mới” giản tiện nên dù không biết “cách cúng mới” thế nào nhưng họ vẫn tin theo. Cộng đồng tín đồ này sống phân tán ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, nhưng lại là những cộng đồng được cố kết bền chặt bởi họ có mối “quan hệ thân tộc, dòng họ, gia đình đối với Dương Văn Mình và các đối tượng cốt cán nên niềm tin của họ khó thay đổi” .

Về tài liệu, chủ yếu là tài liệu chép tay hoặc truyền miệng do Dương Văn Mình và các cộng sự sáng tác dựa vào Kinh Thánh, Thánh ca của Kitô giáo (chủ yếu là đạo Tin Lành), với hình tượng Chúa Giêsu, nhất là con trai của “Bố Trời” (Chúa Trời) xuống cứu thế (chỉ Dương Văn Mình). Trong bài hát sáng tác ngày 19/12/2000, lời tiếng Mông có đoạn: “Chúa Giêsu đã về trước năm 2000, về cứu người thoát khỏi ma quỷ. Được ăn ngon lành. Người cha về làm tốt cho mọi người. Đất nước, tất cả mọi người mới tin. Và đến năm 1997, Bố Trời (sai) con trai về cứu thế. Cha nói đến nơi Cha nghỉ ngơi. Đến ngày 15 tháng 11 năm 2000, con trai của Cha Trời cứu thế mới quay về đến”.

Về “giáo lý”, hiện tượng Dương Văn Mình dựa vào giáo lý, giáo luật, những bài Thánh ca của đạo Tin Lành, lấy hình tượng Chúa Giêsu làm trung tâm, cây Thánh giá làm biểu tượng gắn với các biểu tượng tâm linh của dân tộc Mông. Dương Văn Mình và các cộng sự còn biên soạn một số giáo lý cho phù hợp với khả năng nhận thức của người Mông tin theo; đưa một số nét văn hóa tâm linh của người Mông vào giáo lý và đặc biệt đề cao vai trò cá nhân của “giáo chủ” Dương Văn Mình. Ông ta tự nhận là Chúa Cứu thế, được Thiên Chúa giao cho sứ mệnh “dạy dỗ dìu dắt nhân dân” và được những người tin theo thừa nhận, tin tưởng. Ban đầu, Dương Văn Mình và các cộng sự nghe theo đài FEBC đi tuyên truyền về đạo Vàng Chứ (Vương Chủ). Vì là tuyên truyền nên có sự thêm thắt và không nhất quán. Có nơi đồng nhất Vàng Chứ với hiện tượng “xưng vua” vốn lưu truyền trong dân tộc Mông. Có nơi chuyển Vàng Chứ thành đấng cứu thế, đồng nhất với Chúa Giêsu. Người ta tuyên truyền về việc đón Vàng Chứ. Về sau, Dương Văn Mình dựa vào đó và cho rằng, Mình đã nhận được “thiên khải” từ chính Chúa Giêsu. Đặc biệt, Dương Văn Mình cho rằng, thời điểm ông ta nhận được thiên khải là thời điểm tái sinh, trở thành người khác, chính Dương Văn Mình là Đấng Cứu thế, là người được Bố Trời sai xuống cứu giúp người Mông.

Về “giáo luật”, thể hiện rõ trong Bản quy ước, điều lệ tổ chức đời sống người Mông đổi mới, do Dương Văn Mình soạn thảo. Bản quy ước, điều lệ này gồm 4 phần với nội dung cơ bản như sau:

Phần thứ nhất: Thập nhị giới, tức 12 “điều răn” của đạo (gồm có 11 điều không được làm và 1 điều nên làm) quy định những điều không được làm và nên làm trong cuộc sống mà họ gọi là “đời sống  người Mông đổi mới từ năm 1989 đến nay”. Có thể tóm tắt Thập nhị giới thành 6 nội dung chính như sau: Thứ nhất, ăn ở vệ sinh, kiêng kỵ như không ăn máu động vật, nhất là tiết canh và những con vật chết không bị cắt tiết (Điều 1); Thứ hai, không sa vào các tệ nạn như rượu chè, cờ bạc, ma túy (Điều 2, 5, 6); Thứ ba, giữ gìn phong hóa thôn bản và hạnh phúc gia đình như không đánh nhau, chửi nhau, xích mích, mâu thuẫn, lừa dối, lừa đảo, không cướp vợ, cướp chồng người khác (Điều 3, 4, 10, 11); Thứ tư, không sa vào tội phạm như giết người, đốt nhà (Điều 7); Thứ năm, không được tranh chấp, xâm lấn ruộng đất của người khác (Điều 8, 9) và Thứ sáu, đoàn kết giúp đỡ nhau sản xuất. Như vậy, thập nhị giới răn nêu trên hoàn toàn phù hợp với những tiêu chí xây dựng thôn bản, gia đình văn hóa mới mà Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang phát động nhằm xây dựng nông thôn mới.

Phần thứ hai: ngày sinh nhật và sinh hoạt văn nghệ trong dịp lễ tết, quy định về ngày sinh nhật (Giáng sinh) “giáo chủ” Dương Văn Mình; nghi thức đón giao thừa và sinh hoạt văn nghệ dịp năm mới. Trong đó, quy định rõ vào ngày sinh nhật của Dương Văn Mình (ngày 9 tháng 5 âm lịch) hàng năm phải được tổ chức long trọng, có băng rôn viết dòng chữ “ngày 9 tháng 5 là ngày sinh nhật” (bằng chữ phổ thông và chữ Mông Latinh) trên nền vải trắng; có bàn trà, hoa phủ tấm vải trắng, 4 người đàn ông ngồi bốn góc để chúc mừng và thanh niên nam,
nữ hát 2 bài ca chúc mừng ngày sinh nhật của Dương Văn Mình. Về nghi lễ đón giao thừa, quy định rõ vào lúc 12 giờ đêm (24 giờ), ngày 30 tết Nguyên Đán phải tổ chức đón giao thừa chúc mừng năm mới, thanh niên nam, nữ hát 2 bài ca chào mừng năm mới. Về văn nghệ chào đón năm mới được quy định cụ thể phải có băng rôn ghi dòng chữ “Văn nghệ chào đón năm mới” bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Mông Latinh trên nền vải trắng. Văn nghệ chúc mừng năm mới tổ chức vào hai ngày: ngày 02 tết tổ chức ca múa nhạc đón chào năm mới: “Tốp ca nữ hát đồng ca mở màn trước 1 bài, ngày hôm đó mọi người tham gia hát dân ca, múa khèn, thổi sáo mừng năm mới. Ngày 08 tết tất cả già, trẻ, trai, gái tập trung tổ chức liên hoan văn nghệ tổng kết đón xuân. Như vậy, qua việc làm trên cho thấy, Dương Văn Mình đang có ý đồ tạo nên những ngày “lễ trọng” (ngày sinh nhật) cũng như  “mùa lễ” cho cách cúng mới của mình giống như các ngày lễ trọng và mùa lễ của Công giáo hay đạo Tin Lành vậy. Đây là những điểm mới tạo nên sự khác biệt giữa những người theo hiện tượng Dương Văn Mình với tín ngưỡng truyền thống.

Phần thứ ba: lễ cưới, quy định cụ thể phải có 3 bàn hoa cưới, 5 người chủ trì buổi hôn lễ (1 nữ, 4 nam), 4 người chủ lễ hát 4 bài chúc mừng hôn lễ. Về lễ vật, nhà trai mang mâm lễ vật đến nhà gái để “trả công nuôi dưỡng của bố mẹ”, gồm 1,6 triệu đồng tiền mặt, 60 kg thịt và 24 chai nước ngọt. Đây là những điều hoàn toàn mới mẻ không có trong truyền thống của người Mông. Điều đó cho thấy, Dương Văn Mình muốn canh tân, cải sửa hôn lễ của người Mông theo “cách cúng mới” của ông ta.

Phần thứ tư: tang lễ, quy định khi gia đình có người chết phải thông báo với chính quyền địa phương; tang lễ phải thực hiện chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, không được mời thày cúng, không giết mổ gia súc, gia cầm để thết đãi; người chết phải chôn trong vòng 24 giờ. Đặc biệt, bản quy ước quy định mỗi thôn bản phải làm “01 nhà nhỏ để đựng đồ tang lễ” (nhà đòn), cách xa khu dân cư 100m, bên trong nhà đặt 1 chiếc bàn, trên bàn đặt biểu tượng con én, con cóc, con ve sầu và cây thập giá, có 4 từ: NTUX (Trời), TÊZ (Đất), HNUZ (Mặt Trời), HLI (Mặt Trăng). Ý nghĩa của các biểu tượng: con én thay cho cái cáng; con cóc thay cho cái trống; con ve thay cho cây khèn và cây thập giá thay cho mũi tên. Như vậy, tang lễ là nét đặc sắc nhất của “cách cúng mới” bởi nó đã tạo các biểu tượng, điều đó làm cho hiện tượng Dương Văn Mình khác biệt với đạo Tin Lành và ở góc độ bản sắc tộc người, nó vẫn giữ được bản sắc văn hóa của người Mông.

Về nghi lễ thờ phụng, cuối năm 2000 chuẩn bị cho lễ ra mắt, Dương Văn Mình cho chuẩn bị cơ sở vật chất: cờ (hình chữ nhật, có hình chữ thập ở giữa), ghế, sập (bàn thờ). Ghế cho Dương Văn Mình ngồi là ghế mây, ở phía sau lưng ghế có hình chữ thập. Sập đóng bằng gỗ (còn gọi là bệ thờ, ban thờ). Những người theo Dương Văn Mình sinh hoạt thường xuyên vào thứ Năm và Chủ nhật hàng tuần cũng như các hệ phái Tin Lành khác trong vùng. Nội dung buổi lễ: cầu nguyện tập thể, hát những bài ca ngợi Chúa Giêsu, đặc biệt ca ngợi “giáo chủ” Dương Văn Mình. Từ năm 2015 trở lại đây, Dương Văn Mình và những người theo đạo tổ chức các buổi lễ sinh nhật, lễ mừng năm mới rất rầm rộ, nhằm biến ngày sinh nhật của Dương Văn Mình trở thành ngày “lễ trọng”, lễ đón năm mới trở thành “mùa lễ” của đạo.

Biểu tượng Nhà đòn (nơi để đồ tang lễ có hình các linh vật: con én, con cóc, con ve, chữ thập) là biểu tượng nổi bật và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với “cách cúng mới” của Dương Văn Mình . Nhà đòn có kiến trúc đơn giản, là một ngôi nhà nhỏ có diện tích từ 8 m2 đến 12 m2 , trong nhà đòn để ghế, bàn đặt quan tài cho người chết. Bàn, ghế có khắc 4 biểu tượng, gồm hình: con én, con cóc, con ve và chữ thập tượng trưng cho cánh cung của người Mông. Một số nơi còn có thêm cây khèn. Những người theo hiện tượng Dương Văn Mình giải thích rằng, con én (thay vì con gà theo tín ngưỡng của người Mông truyền thống) là linh vật biểu trưng chỉ đường đưa linh hồn người chết về với tổ tiên nơi Thiên Đường; con cóc là linh vật biểu trưng cho tiếng trống kêu khóc, báo lên Ông Trời dưới trần gian có người chết; con ve là linh vật biểu trưng cho tiếng khèn khóc than cho người qua đời và chữ thập tượng trưng cho cánh cung (nỏ) làm vũ khí bảo vệ người chết trên dọc đường đi và bảo vệ linh hồn người đã khuất cũng là biểu tượng của Chúa Giêsu - Đấng Cứu thế của họ. Khi có người qua đời, người ta đem bàn, ghế có khắc hình các linh vật từ nhà đòn về nhà đặt quan tài làm lễ cho người chết. Nếu không có nhà đòn, người ta có thể đem linh vật trên để ở nhà, hoặc khi có người qua đời họ sẽ tạo biểu tượng các linh vật mới. Ngoài ra, người theo Dương Văn Mình còn treo tấm vải trắng có in hình Mặt Trời. Họ giải thích rằng, Mặt Trời tượng trưng cho việc con người do Ông Trời sinh ra nên phải thờ Ông Trời. Trời còn là biểu tượng cho tính Dương, cũng là tượng trưng cho dòng họ Dương (Giàng) của “giáo chủ” Dương Văn Mình. Tấm vải nền trắng tượng trưng cho sự trong sạch, trong sáng cũng là biểu trưng của người Mông Trắng.

Như vậy, với việc duy trì các linh vật con chim én, con ve, con cóc, và chữ thập tượng trưng cho cây cung (nỏ), những biểu tượng rất gần gũi trong tâm thức tôn giáo của người Mông, cho thấy, hiện tượng Dương Văn Mình chủ trương lưu giữ lại những nét văn hóa, tâm thức tôn giáo của người Mông trong “cách cúng mới” của mình, mặc dù họ không trở lại với tín ngưỡng truyền thống nữa (phủ nhận thờ cúng tổ tiên, thờ ma nhà, ma cửa).

Về tổ chức ngay từ khi mới xuất hiện, Dương Văn Mình đã tuyển chọn các cộng sự của mình, như Đào Đình Hoãng. Năm 1989, sau khi lập “cách cúng mới”, Dương Văn Mình đã chỉ đạo thành lập một nhóm phụ trách việc cầu cúng và truyền đạo. Năm 2000, ông ta lập tổ chức, gồm có giáo chủ Dương Văn Mình, các ban ở trung ương và ở thôn, bản đều do Dương Văn Mình phân công cụ thể. Năm 2011, Dương Văn Mình sắp xếp lại Ban Lãnh đạo Trung ương có 11 người do Lý Văn Ninh (người Cao Bằng) trực tiếp điều hành, phân công người phụ trách cách các tỉnh (4 tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn) mỗi tỉnh có trưởng, phó nhóm phụ trách. Ở thôn, bản có trưởng, phó nhóm phụ trách.

Dưới góc độ tôn giáo học, xét về bản chất, hiện tượng Dương Văn Mình là một loại hình tôn giáo mới - một “cách cúng mới” của người Mông. Cái “lý mới” này chưa phải là một tôn giáo hay giáo phái hoàn chỉnh có đầy đủ giáo lý, nghi lễ của một tôn giáo, mà đang trong quá trình xây dựng, đang tìm kiếm một mô thức đời sống tôn giáo mới hay một kiểu hiện đại hóa tín ngưỡng truyền thống của người Mông dựa trên tư tưởng Kitô giáo cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của một bộ phận dân tộc Mông, nhưng vẫn lưu giữ lại những giá trị truyền thống. Sự xuất hiện nhà đòn với các linh vật con én, con cóc, con ve và chữ thập tượng trưng cho cánh cung là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa giữa Kitô giáo với văn hóa địa phương tạo nên hình thái sinh hoạt tôn giáo mới - hiện tượng Dương Văn Mình, mang sắc thái riêng của người Mông Trắng ở Việt Nam.

Hiện tượng Dương Văn Mình có thể xem như một lối rẽ trong quá trình cải đạo của phong trào chuyển đổi đức tin, từ tín ngưỡng truyền thống sang theo xu hướng Kitô giáo của một bộ phận người Mông ở Việt Nam vào những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Đó là sự tiếp biến của Kitô giáo với văn hóa tín ngưỡng địa phương, từ đó hình thành nên hình thái sinh hoạt tôn giáo mới có liên quan đến Kitô giáo, nhất là đạo Tin Lành. Rõ ràng, việc Dương Văn Mình tự nhận mình là “Đấng Cứu thế” là không thể chấp nhận được đối với những người Kitô giáo, kể cả Công giáo và đạo Tin Lành. Bởi Đức Chúa Kitô (Chúa Cứu Thế) chỉ có một là Đức Chúa Giêsu Kitô mà thôi.

Hơn nữa, việc đề cao biểu tượng nhà đòn với các linh vật như con én, con cóc, con ve và cánh cung, cũng như biểu tượng Mặt Trời cùng việc tổ chức ngày sinh của Dương Văn Mình như một buổi lễ “Giáng sinh”, đã đi ngược lại với chủ trương không thờ ngẫu tượng và hệ thống 5 tín lý duy nhất căn bản của đạo Tin Lành (duy ân điển, duy đức tin, duy Kinh Thánh, duy Chúa Giêsu Kitô và duy Thiên Chúa được tôn vinh). Chính vì vậy, hiện tượng Dương Văn Mình đã không được các hệ phái Tin Lành thừa nhận, thậm chí đài FEBC - cơ quan truyền giáo của đạo Tin Lành đã lên án rằng: “Giàng Súng Mình (tức Dương Văn Mình) không phải là người tốt, Giàng Súng Mình không phải là người cứu nhân loại, ông Mình là mục sư giả, là người không có thật, ông Mình chỉ lừa anh em mà thôi, ông Mình sinh ra ở Trái Đất này chứ ông Mình không phải là người của Cha Trời, nhảy từ trên Trời xuống... Còn Giàng Súng Mình anh em đừng tin và không được làm theo ông Mình và anh em đừng sợ ông Mình, ông Mình là người nói dối, lừa tiền nong của bà con”.

Thực ra, hiện tượng Dương Mình với những đặc điểm như trên không chỉ riêng có ở Việt Nam mà đã xuất hiện ở nhiều nơi cùng với quá trình phát triển của đạo Tin Lành ra thế giới. Chẳng hạn, đạo Tin Lành du nhập vào Hàn Quốc cũng đã hình thành nên tổ chức mang tên “Hội Thánh Đức Chúa Trời”, mà đấng tôn thờ chuyển đổi từ Chúa Giêsu Kitô sang nhà tiên tri Ahn Sahng Hong. Có thể nói, hiện tượng Dương Văn Mình là một hiện tượng tôn giáo mới của người Mông, một thực thể khách quan ra đời và phát triển do những điều kiện kinh tế-xã hội quyết định nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của một bộ phận người Mông.

Trên thực tế, sau 30 năm tồn tại và phát triển, hiện tượng Dương Văn Mình đã hình thành những cộng đồng tôn giáo ổn định, với một niềm tin đã được xác định và khó thay đổi, một lối sống đạo đã định hình rõ nét (sinh hoạt tôn giáo vào thứ Năm và Chủ nhật hàng tuần), có “giáo chủ” cụ thể (Dương Văn Mình) và những biểu tượng tôn giáo. Nói cách khác, hiện tượng Dương Văn Mình thực chất là một loại tôn giáo mới của người Mông đã được cải biên, hiện đại hóa trên cơ sở dung hợp giữa đức tin Kitô giáo với một số tập tục, nghi lễ tín ngưỡng truyền thống của người Mông trong hoàn cảnh mới phù hợp với nhu cầu của đồng bào. Nó đã được một bộ phận người Mông tin theo và đón nhận như một “cách cúng mới”, một “cái lý mới” của mình, do cuộc sống khó khăn và việc thay đổi niềm tin tín ngưỡng, loại trừ được sự ám ảnh về “ma” trong phong tục cũ và thấy có lợi về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề tâm linh và kinh tế. Mặt khác, những người theo Dương Văn Mình đều có quan hệ đồng tộc, họ hàng, thông gia, liên gia, phần lớn là tự nguyện tham gia, không có biểu hiện bị ép buộc. Do vậy, họ không dễ dàng từ bỏ hoặc quay lại “đối đầu” với người đồng đạo. Việc sử dụng các linh vật như con én, con cóc, con ve, cây thập giá tượng trưng cho cây cung trong đám tang đã trở thành biểu tượng tâm linh sâu sắc của tín đồ và họ chỉ sử dụng khi có người chết, không phải biểu tượng để tập hợp quần chúng hay hình thành tổ chức. Hiện tượng này “đã hình thành, tồn tại gần 30 năm, đã ăn sâu vào tư tưởng của một bộ phận đồng bào dân tộc Mông” và “ảnh hưởng của Dương Văn Mình đã ngấm sâu vào đời sống tâm linh của những người tin theo” không dễ gì xóa bỏ.

Sự xuất hiện của hiện tượng Dương Văn Mình có thể xem như một quá trình “hiện đại hóa” tín ngưỡng truyền thống của người Mông nhằm loại bỏ những hủ tục lạc hậu, giữ gìn, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa tộc người. Hiện tượng Dương Văn Mình thể hiện khát vọng của một bộ phận người Mông vừa muốn cải đạo sang tôn giáo khác, ở đây là Kitô giáo, nhưng vẫn muốn bảo tồn, lưu giữ một số quan niệm căn cốt, sâu sa trong tâm thức tôn giáo, văn hóa truyền thống của mình. Điều này được thể hiện rất rõ ở ngôi nhà đòn với biểu tượng con én, con ve, con cóc và chữ thập tượng trưng cho cây cung. Đó là một kiểu hỗn dung giữa Kitô giáo và tín ngưỡng truyền thống người Mông, một kiểu “hiện đại hóa” tôn giáo truyền thống của người Mông cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đáp ứng nhu cầu của đồng bào vì một mặt họ không thể thiếu thốn tôn giáo, giữ gìn tình cảm của những người thân trong gia đình đối với những người quá cố, mặt khác lại tiết kiệm được thời gian và nhất là đỡ chi phí tốn kém trong hoàn cảnh cuộc sống thực tại còn quá khó khăn, cũng như tránh một số hủ tục nặng nề .

Đáng chú ý, hiện tượng Dương Văn Mình đưa ra và thực hiện thập nhị “giới răn” khá tiến bộ, phù hợp chủ trương xây dựng đời sống văn hóa của Nhà nước, như: không uống rượu bia, không đánh nhau, chửi nhau; không cờ bạc; không tranh chấp ruộng đất với người khác; không thách cưới cao; tổ chức lễ cưới đơn giản, lịch sự; tang lễ phải báo với chính quyền, phải thực hiện chu đáo, trang nghiêm, tiết kiệm, vệ sinh, không để quá 24 giờ và những biểu tượng như còn én, con cóc, con ve và cánh cung.

Tuy nhiên, hiện tượng Dương Văn Mình - “cách cúng mới” của người Mông này đang trong quá trình hình thành, còn mang tính tự phát, thiếu tính hệ thống và bài bản, chưa có một hệ thống giáo lý và một triết lý thực hành tôn giáo rõ ràng, nhất là nó đang thiếu hụt một quan niệm, đức tin tôn giáo có định hình rõ nét.

Tóm lại, sau hơn 30 năm hình thành, tồn tại, hiện tượng Dương Văn Mình đã ăn sâu vào tư tưởng, lối sống và trở thành một nhu cầu tâm linh tôn giáo không thể thiếu của một bộ phận người Mông. Đó là một loại hình tôn giáo mới dựa trên cơ sở tư tưởng Kitô giáo và tín ngưỡng truyền thống của người Mông đã được cải biên cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Tuy nhiên, hiện tượng này còn đang trong quá trình hình thành nên cần có chính sách phù hợp vừa nhằm đáp ứng
nhu cầu đời sống tâm linh của đồng bào, vừa ngăn chặn sự lợi dụng của các thế lực xấu để ổn định vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần vào sự phát triển bền vững đất nước

 

Saturday, October 1, 2022

Nhận thức đúng về “Bà Cô Dợ” - tà đạo trong dân tộc Mông

 

Tà đạo Bà Cô Dợ đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tuyên truyền, tập hợp lực lượng để lập cái gọi là “Nhà nước Mông” gây ra nhiều hệ lụy trong các vùng đồng bào người Mông. Việc nhận thức đúng về nguồn gốc, bản chất và hoạt động của tà đạo này giúp chúng ta hiểu vì sao cần loại bỏ nó trong dân tộc Mông



Nguồn gốc của tà đạo Bà Cô Dợ

Tà đạo Bà Cô Dợ do đối tượng Vừ Thị Dợ, sinh năm 1977, là người Mông gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại thành phố Milwaukee, bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm hội trưởng từ cuối năm 2016. Vừ Thị Dợ đã đăng tải, tán phát nhiều video clip trên YouTube với nội dung con trai của Dợ, sinh năm 2000, là chúa Giê Su, đến năm 2018 (đủ 18 tuổi) sẽ tái lâm làm vua của người Mông. Vừ Thị Dợ đã lập ra nhóm đạo có tên “Đức Chúa trời yêu thương chúng ta” hay còn gọi là Bà Cô Dợ và lôi kéo mọi người tin theo và tham gia nhóm đạo trên để tập hợp lực lượng, lập nhà nước riêng của người Mông. Vừ Thị Dợ trước đây tin theo Công giáo và Tin lành nhưng có nhiều vi phạm về giáo lý, giáo luật, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc Kinh thánh hai tôn giáo này nên đã bị khai trừ ra khỏi giáo hội. Sau khi bị khai trừ, Vừ Thị Dợ đã lập trang mạng kiếm tiền từ YouTube kết với truyền đạo. Những người tin theo tà đạo Bà Cô Dợ không tà đạo lễ Phục sinh, chỉ tà đạo lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của chúa Cứ Nu Si Lông, tuyên truyền rằng không phải đóng 10% thu nhập, ai tin theo Bà Cô Dợ sẽ được chia tiền. Sáng chủ nhật hằng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm nhóm.


Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ; nội dung chủ yếu chúng tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc Kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo Bà Cô Dợ tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.


Bản chất, hoạt động của tà đạo Bà Cô Dợ


Bà Cô Dợ là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác. Theo đạo Bà Cô Dợ khi có chiến tranh, thiên tai thì sẽ được đưa đến đất nước của chúa sinh sống; kêu gọi người Mông phải đoàn kết để chung tay xây dựng đất nước riêng của người Mông...


Chúng thông qua việc hỗ trợ tài chính cho số đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong nước để động viên, chỉ đạo lôi kéo, phát triển tín đồ. Từ năm 2018 đến nay, nhóm của đối tượng Vừ Thị Dợ ở Mỹ đã công khai chỉ trích một mục sư ở trong nước và một số mục sư Tin Lành khác ở Mỹ là tà giáo, kêu gọi người Mông không tin những mục sư trên. Từ năm 2017 đến nay, đối tượng Vừ Thị Dợ và số đối tượng cốt cán ở Mỹ đã nhiều lần gửi tiền cho đối tượng cầm đầu, cốt cán ở Điện Biên, Lai Châu để hoạt động.


Số đối tượng cốt cán trong tà đạo Bà Cô Dợ ở các tỉnh Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên đã chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ, có đối tượng đứng đầu chỉ đạo, phụ trách; có sự trao đổi thông tin, tình hình và thống nhất về cách thức hoạt động và chịu sự chỉ đạo chung của đối tượng ở Mỹ. Tuy nhiên, tà đạo Bà Cô Dợ chưa có cơ cấu tổ chức rõ ràng mà chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ; không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, điều lệ cụ thể, hoạt động chủ yếu cắt xén giáo lý của đạo Tin lành, bị các chức sắc Tin lành Mông ở Mỹ và nhiều nước lên án. Tài liệu tuyên truyền, sinh hoạt chủ yếu do Vừ Thị Dợ soạn thảo, tán phát trên mạng Internet dựa vào giáo lý, giáo luật của đạo Tin lành nhưng có lược bỏ, sửa đổi.


Luận điệu tuyên truyền, tà đạo Bà Cô Dợ đã đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, coi các tôn giáo khác là tà giáo, còn bản thân tự nhận là tôn giáo chính thống của người Mông. Những gì mà các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong tà đạo Bà Cô Dợ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của đồng bào dân tộc Mông; không được pháp luật Việt Nam cho phép. Vì vậy, việc nhận thức rõ bản chất của tà đạo Bà Cô Dợ để kịp thời ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng cầm đầu, cốt cán đang tích cực tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia vào các hoạt động gây phức tạp về tình hình an ninh, trật tự trong giai đoạn hiện nay 

Quá trình hình thành tà đạo Dương Văn Mình và cái kết của kẻ lừa đảo

 

Từ khi bước vào thời kỳ Đổi Mới (1986), cùng với những chuyển biến của đời sống xã hội, đời sống tôn giáo ở nước ta cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ, đặc biệt trong vùng dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Trong đó, nổi bật nhất là phong trào “chuyển đổi đức tin” của một bộ phận người Mông đã từ bỏ tín ngưỡng truyền thống để gia nhập các tôn giáo khác, nhất là Kitô giáo (Công giáo và đạo Tin Lành). Trong xu trào ấy, có một bộ phận người Mông đã không chuyển sang theo đạo Tin Lành hay Công giáo mà lựa chọn “con đường thứ ba”, một xu hướng mới vừa theo Kitô giáo, nhưng vẫn giữ lại những giá trị tâm linh tôn giáo truyền
thống của người Mông. Trong đó, tiêu biểu là hiện tượng Dương Văn Mình. Việc tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển, diện mạo và những đặc trưng cơ bản về hiện tượng Dương Văn Mình với tư cách là một “cách cúng mới”, “con đường thứ ba” của một bộ phận người Mông ở Việt Nam hiện nay cho chúng ta nhận thức đầy đủ, lý giải về sự xâm nhập, ăn sâu, bén rễ của thứ tà đạo này trong các vùng đồng bào người Mông.


 


Hiện tượng Dương Văn Mình xuất hiện vào nửa sau thập niên 80 của thế kỷ XX, đến nay đã có trên 30 năm tồn tại và phát triển. Dương Văn Mình (tiếng Mông có tên gọi là Dề Vềnh Mềnh, Giàng Văn Mềnh, Giàng Sống Mềnh hoặc Giàng Súng Mình), người Mông Trắng, sinh ngày 9 tháng 5 (âm lịch) năm 1961, tại thôn Xí Điêng, xã Thượng Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Năm 1982, Dương Văn Mình cùng gia đình di cư về xóm Ngõa, thôn Ngòi Sen, xã Yên Hương (nay là xã Yên Lâm), huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.


Quá trình đi tìm “cách cúng mới” hay “cái lý mới” cho người Mông của Dương Văn Mình bắt đầu vào năm 1987. Sau khi nghe đài FEBC (từ Manila, Philippines)1 phát bằng tiếng Mông tuyên truyền về đạo Tin Lành dưới tên gọi Vàng Chứ, nói về tương lai tốt đẹp của người Mông nếu theo Vàng Chứ, Dương Văn Mình cùng một cộng sự người Mông Trắng tích cực đi tuyên truyền về đạo Vàng Chứ. Họ tự nhận mình là người của Vàng Chứ, đi tuyên truyền rằng Vàng Chứ là người sẽ cứu dân tộc Mông thoát khỏi khổ đau, ai theo Vàng Chứ sẽ được sung sướng, không làm cũng có ăn; ai không theo Vàng Chứ sẽ bị hổ ăn thịt, nước cuốn trôi,... tạo ra một bầu không khí căng thẳng, hoang mang lo sợ xen lẫn sự trông chờ, hy vọng dấy lên trong cộng đồng người Mông. Giữa khung cảnh ấy, Dương Văn Mình và cộng sự kêu gọi người nào muốn theo Vàng Chứ thì phải đăng ký, nộp tiền, thuốc lá (Sapa, Du lịch), vải đỏ, bỏ bàn thờ tổ tiên, bỏ ma nhà, ma cửa và tập bay để chờ ngày Vàng Chứ đón lên Trời3 . Tuy nhiên, sau một thời gian tuyên truyền về đạo Vàng Chứ, Dương Văn Mình đã từ bỏ đạo Vàng Chứ, tự nhận mình là Đấng Cứu thế và được Đào Đình Hoãng cùng các cộng sự khác tích cực ủng hộ, giúp sức tuyên truyền.

Việc từ bỏ đạo Vàng Chứ chuyển sang tuyên truyền về “Đấng Cứu thế Dương Văn Mình” được Dương Văn Mình và Đào Đình Hoãng chuẩn bị khá kỹ với những bước đi cụ thể. Họ đã bàn kế hoạch tuyên truyền lôi kéo người Mông đi theo, gồm ba bước:

 

Bước một: Tạo dựng việc Dương Văn Mình được Chúa nhập, dựng cổng chào, làm cờ, băng rôn, bước đầu lôi kéo đồng bào bỏ bàn thờ gia tiên để cầu cúng bằng thuốc lá, tung tin trời tối, đất sập, thú dữ đe dọa những ai chưa tin, chưa theo.

 

Bước hai: Sau khi tạo được chỗ đứng ở Yên Hương, Dương Văn Mình tự đi và cử người đi đến các vùng người Mông khác để tuyên truyền lôi kéo thêm người ủng hộ, thu tiền và hiện vật.

 

Bước ba: Dựng nhà thờ, phong cho Đào Đình Hoãng là cha (linh mục), Dương Văn Mình là Giêsu, công khai theo đạo Thiên Chúa , sử dụng quần chúng gây áp lực với chính quyền để giải quyết các yêu cầu đưa đạo Thiên Chúa vào người Mông.

 

Trước hết, Dương Văn Mình tạo dựng việc được Chúa Giêsu nhập vào qua lên đồng để tạo tính thiêng đối với dân chúng. Sự việc “khai đạo” này diễn ra vào khoảng 22 giờ ngày 01 đến 2 giờ ngày 02/8/1989, tại xã Yên Hương, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Dương Văn Mình “lên đồng” gặp 4 người từ Trời xuống nói chuyện, trong đó có một người tên là Giêsu - “người mà trước đây đã bị người ta đem đóng đanh trên cây thập ác (cây giang tay)”. Đến trưa ngày 02 tháng 8 chỉ còn Giêsu ở lại. Giêsu nói với Mình: “Từ đây không đi cúng kiểu cũ nữa, hãy đem hết tất cả các đồ thờ cúng vứt bỏ đi là cắt được đường quấy nhiễu của ma quỷ” .

 

Tỉnh dậy, Dương Văn Mình kể lại câu chuyện đó cho mọi người và tung tin về ngày “tận thế”, rằng: “Năm 2000 quả đất và mặt trời va vào nhau vỡ tung, con người chết hết, ai muốn sống phải khấn Bố Trời và theo Mình. Ai theo Dương Văn Mình sẽ được lên trời, ở đó người Mông có quốc gia, không học cũng biết chữ, lao động bằng cơ giới, cuộc sống sung sướng, bát đĩa bằng vàng, người trẻ không già, người già sẽ lột xác và người chết sẽ sống lại”. Dương Văn Mình tuyên truyền rằng: “Tháng 10 năm 1989 sẽ có mưa to, gió lớn, trời tối ba ngày ba đêm” để hù dọa những ai chưa tin, chưa theo và ông ta dạy cách cúng mới cho đồng bào bằng việc phá bỏ bàn thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, theo cách cúng mới là không dùng hương mà dùng thuốc lá.

 

Dương Văn Mình hướng dẫn người dân tháo bỏ bàn thờ gia tiên, cách đuổi “ma nhà”, “ma tổ tiên”, tổ chức làm lễ gọi vía cho 50 gia đình người Mông ở Yên Hương, Hàm Yên gia nhập cách cúng mới của Mình và giao cho một cộng sự về Cao Bằng thực hiện cách cúng mới và thu tiền của những người Mông tin theo.

 

Phụ họa với Dương Văn Mình, Đào Đình Hoãng và các đồng sự viết khẩu hiệu bằng chữ Việt, chữ Mông và chữ Hán khẳng định: “Đấng Cứu thế Dương Văn Mình ra đời vào lúc 12 giờ đêm ngày 01 tháng 8 năm 1989” và dựng cổng chào để mọi người đến xem, chứng kiến đấng cứu thế Dương Văn Mình “giáng thế” tại nhà ông Đào Văn Tạ (bố vợ Mình). Mỗi người khi đến đó đều phải nộp cho Dương Văn Mình tiền, thuốc lá, chè, đường.. . Để thiêng hóa đấng cứu thế Dương Văn Mình, Hoãng và các đồng sự còn tung tin rằng, “Dương Văn Mình là người thiêng, là Đấng Cứu thế Giêsu” và kêu gọi “bà con người Mông hãy nhanh chóng báo cho người thân biết, ngày mồng 9 tháng 10 đến nơi ngự của đấng cứu thế Dương Văn Mình tại xã Yên Hương, huyện Hàm Yên làm lễ cầu hồn cho khỏi ốm đau, khi đi nhớ mang theo chè, thuốc lá và tiền”.

 

Theo yêu cầu của “đấng cứu thế” Dương Văn Mình, họ thành lập một nhóm người thực hiện việc cúng khấn cầu hồn. Nhiều người Mông từ Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn và một số nơi khác trong tỉnh Tuyên Quang kéo đến nhờ “đấng cứu thế” Dương Văn Mình chữa bệnh, mong thoát khỏi khổ đau . Sau một thời gian tích cực hoạt động, Dương Văn Mình và Đào Đình Hoãng đã tuyên truyền lôi kéo được nhiều người Mông ở Bắc Thái (Thái Nguyên và Bắc Kạn), Tuyên Quang, Cao Bằng tin theo.


    Để đẩy mạnh việc tuyên truyên cho “cách cúng mới” của mình, Dương Văn Mình còn thành lập tổ chức, tự nhận là Chúa Giêsu, phong cho Đào Đình Hoãng làm linh mục (cha) và xây dựng một ngôi nhà năm gian để hành đạo. Ngày 26 tháng 3 năm 1990, Dương Văn Mình mổ trâu, bò, lợn, gà để khánh thành nhà mới và mời bà con người Mông đến ăn mừng Mình được phong làm “Bố đạo”. Nhiều người Mông đã bỏ sản xuất, bán trâu, bò, ngựa để đến chúc mừng “đấng cứu thế” Dương Văn Mình.

 

Những hoạt động, việc làm của Mình và các cộng sự bị chính quyền phát hiện và dẹp bỏ. Ngày 30 tháng 4 năm 1990, Dương Văn Mình, và đến ngày 15 tháng 5 năm 1990, Đào Đình Hoãng bị bắt, đưa ra xét xử và bị xử phạt 5 năm tù giam về tội lừa đảo, tuyên truyền mê tín dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng.