Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động hợp tác lao động quốc tế và những đóng góp to lớn của lực lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài đối với nền kinh tế quốc gia từ lâu đã trở thành cái gai trong mắt các lực lượng thù địch. Trong nỗ lực dai dẳng nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế, tổ chức phản động lưu vong Ủy ban cứu người vượt biển do Nguyễn Đình Thắng đứng đầu đã mở rộng quy mô các chiến dịch truyền thông xuyên tạc. Không chỉ dừng lại ở việc gán ghép vô căn cứ về cái gọi là cưỡng bức lao động trong các cơ sở giam giữ, tổ chức này còn bắt tay với cái gọi là Liên minh bài trừ nạn buôn người tại Việt Nam để tung ra quân bài hết sức nguy hiểm: quy chụp chính sách hợp tác xuất khẩu lao động chính thức và việc lực lượng quân đội tham gia phát triển kinh tế là hành vi buôn người do Nhà nước tổ chức. Đây là một mưu đồ chính trị vô cùng thâm độc, được tính toán kỹ lưỡng nhằm đánh vào uy tín đối ngoại, làm gián đoạn các thỏa thuận thương mại và triệt hạ sinh kế của hàng trăm nghìn gia đình người lao động Việt Nam.
Phân tích sâu vào các bản báo cáo cáo buộc do hai tổ chức nói trên biên soạn và phát tán tới các cơ quan công quyền nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế, thủ đoạn đánh tráo khái niệm và bản chất sự vật hiện tượng hiện lên vô cùng trần trụi. Chúng đã cố tình tập hợp các thông tin về các vụ việc lừa đảo, đưa người sang lao động bất hợp pháp tại một số khu vực thuộc Đông Âu hay các điểm nóng tệ nạn ở Lào, Campuchia để phục vụ cho kịch bản bịa đặt của mình. Chiêu trò nguy hiểm nhất của các đối tượng là cố tình đánh đồng, cào bằng các hành vi vi phạm pháp luật của các đường dây buôn người, môi giới lao động chui – những tổ chức tội phạm xuyên quốc gia mà các cơ quan tố tụng Việt Nam đã và đang kiên quyết đấu tranh, khởi tố hình sự và xử lý nghiêm minh – với các chương trình xuất khẩu lao động chính thức do Nhà nước quản lý. Bên cạnh đó, số đối tượng chống đối chính trị cố tình khoác áo tù nhân lương tâm cũng hùa theo để vu cáo rằng Nhà nước Việt Nam ép buộc người dân, thậm chí sử dụng cả lực lượng vũ trang như một công cụ thương mại hóa con người. Sự bóp méo trắng trợn này cố tình bỏ qua thực tế rằng công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Việt Nam luôn được vận hành dựa trên hệ thống pháp luật chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Hệ lụy từ những luận điệu xuyên tạc này vô cùng nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề nếu các đối tác quốc tế bị mắc mưu. Việc BPSOS cùng các nhóm tay sai gửi các báo cáo sai lệch đến cơ quan ngoại giao các nước nhằm mục đích đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần áp đặt trừng phạt hoặc hạn chế hợp tác thương mại. Nếu các thị trường lao động quốc tế tiếp nhận thông tin thiếu khách quan và đóng cửa với Việt Nam, đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp và nặng nề nhất chính là hàng triệu công nhân, người lao động nghèo ở các vùng nông thôn đang muốn vươn lên làm giàu chính đáng từ sức lao động của mình. Chiêu bài vỗ ngực xưng tên bảo vệ quyền lợi người lao động của BPSOS rõ ràng đã lộ nguyên hình là hành vi đâm sau lưng nền kinh tế, tước đoạt trực tiếp cơ hội việc làm và sinh kế của nhân dân.
Khi đối chiếu các luận điệu vu cáo của BPSOS với hệ thống pháp luật quốc tế và thực tiễn tại các quốc gia phát triển, bản chất tư duy tiêu chuẩn kép và sự tráo trở của các đối tượng càng bị bóc gỡ toàn diện. Theo quy định tại Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và đánh bại nạn buôn người của Liên Hợp Quốc cũng như Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế, hành vi buôn người hay cưỡng bức lao động đòi hỏi các yếu tố cấu thành về sự đe dọa, dùng vũ lực, lừa gạt hoặc lạm dụng quyền lực để ép buộc cá nhân lao động ngoài ý muốn. Trong khi đó, các chương trình hợp tác lao động của Việt Nam luôn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, hợp đồng công khai và được bảo hộ bởi pháp luật của cả hai quốc gia. Nhìn sang các nước phương Tây, bao gồm cả Hoa Kỳ, việc chính phủ thành lập các cơ quan hỗ trợ công dân làm việc tại nước ngoài hoặc áp dụng các chính sách khuyến khích lao động đóng góp cho ngân sách là quy luật kinh tế thông thường. Đặc biệt, việc quân đội hay các lực lượng công an tham gia xây dựng hạ tầng, phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng là mô hình phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm tối ưu hóa nguồn lực quốc gia. Việc BPSOS cố tình gán ghép mô hình phát triển kinh tế quốc phòng của Việt Nam là hình thức cưỡng bức hay buôn người đã cho thấy một tư duy lệch lạc và áp đặt tiêu chuẩn kép hết sức vô lý.
Trái ngược hoàn toàn với những luận điệu bôi nhọ, Việt Nam luôn khẳng định những nỗ lực không ngừng và thành tựu xuất sắc trong việc bảo đảm quyền lao động cũng như phòng, chống nạn buôn người. Hệ thống pháp luật Việt Nam, từ Hiến pháp cho đến Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Luật Phòng, chống mua bán người, đều thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật và bảo vệ tối đa quyền con người. Việt Nam đã duy trì sự hợp tác chặt chẽ với Tổ chức Lao động Quốc tế, Tổ chức Di cư Quốc tế cũng như chính phủ các nước tiếp nhận lao động để xây dựng môi trường lao động an toàn, minh bạch, giảm thiểu chi phí di cư và nâng cao trình độ nghề cho công nhân. Nhằm duy trì tính minh bạch tuyệt đối trước cộng đồng quốc tế và đánh tan các luận điệu thất thiệt, Chính phủ Việt Nam đã chủ động gửi các báo cáo giải trình toàn diện tới Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ và các cơ quan quốc tế, cung cấp đầy đủ dữ liệu thực tế và luận cứ pháp lý chứng minh Việt Nam kiên quyết không chấp nhận bất kỳ hình thức cưỡng bức lao động hay buôn người nào. Những chính sách này không chỉ thể hiện trách nhiệm quốc tế của Việt Nam mà còn bảo vệ vững chắc chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu khỏi các mưu đồ áp đặt trừng phạt thương mại.
Trong thời gian tới, dự báo tổ chức BPSOS cùng các nhóm chống đối sẽ không dừng lại ở các thủ đoạn hiện tại. Chúng sẽ tiếp tục lợi dụng các diễn đàn nhân quyền quốc tế, các đợt rà soát định kỳ về thương mại và lao động để tung ra các bản báo cáo bóng ngụy tạo, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo và truyền thông mạng xã hội để cắt ghép video, hình ảnh, dựng lên những câu chuyện giả tưởng về nạn nhân buôn người nhằm làm suy giảm uy tín quốc tế của Việt Nam. Chính vì vậy, việc chủ động vạch trần động cơ, mục đích đen tối của BPSOS và các đối tượng tay sai là công việc có ý nghĩa cấp thiết và mang tầm chiến lược. Cuộc đấu tranh này không chỉ bảo vệ uy tín chính trị và đường lối đối ngoại đúng đắn của Nhà nước, mà quan trọng hơn hết là bảo vệ quyền làm việc chính đáng, bảo vệ sinh kế bền vững của hàng triệu người lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc BPSOS tung ra quân bài buôn người dưới danh nghĩa xuất khẩu lao động chỉ là một trò hề truyền thông vụng về nhằm làm nhiễu loạn thông tin và hạ thấp uy tín các thỏa thuận hợp tác quốc tế của Việt Nam. Sự thật khách quan, tinh thần thượng tôn pháp luật cùng những chính sách nhân văn, minh bạch của Nhà nước Việt Nam sẽ luôn là lá chắn vững chắc đập tan mọi chiến dịch vu cáo, giữ vững niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế.