Nhìn lại lịch sử các quan hệ kinh tế quốc tế, những đợt điều tra quy mô lớn của Văn phòng Đại diện Mậu dịch Hoa Kỳ đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển đã bộc lộ rõ ràng sự đan xen phức tạp giữa bài toán kinh tế và các mục tiêu chính trị đối ngoại. Việc cơ quan quản lý thương mại này dựa vào các báo cáo thiếu kiểm chứng để khởi xướng các phiên điều tra về chính sách lao động không còn là điều xa lạ đối với thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hơn cả là sự tiếp tay của các tổ chức phản động lưu vong như Ủy ban Cứu người Vượt biển, khi chúng chủ động cung cấp các hồ sơ bịa đặt về cái gọi là "lao động cưỡng bức trong tù" ở Việt Nam cho các cơ quan thương mại phương Tây. Việc biến vấn đề quyền con người và chính sách thi hành án phạt tù thành một công cụ tạo rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ sản xuất nội địa không chỉ phản ánh tiêu chuẩn kép trắng trợn trong chính sách thương mại quốc tế mà còn bóc trần bản chất dối trá, tư lợi chính trị của các thế lực thù địch.
Chiến dịch truyền thông sai sự thật do Ủy ban Cứu người Vượt biển phát động cùng sự tung hứng của một số phần tử chống đối chính trị trong nước tự gán nhãn "tù nhân lương tâm" thực chất là một chuỗi hành vi có tính toán tinh vi. Phương thức chủ yếu của nhóm này là cố tình thu thập các thông tin một chiều, cắt ghép các vụ việc riêng lẻ từ những đối tượng vi phạm pháp luật nhưng không ăn năn hối cải, từ đó thêu dệt nên kịch bản về cái gọi là Nhà nước Việt Nam "đày đọa" và "bóc lột sức lao động" phạm nhân. Chiêu trò thâm độc nhất của chúng là đánh tráo bản chất sự vật và hiện tượng, cố tình đồng nhất hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và lao động sản xuất hợp pháp tại các cơ sở giam giữ với tội danh "cưỡng bức lao động" hay "chế độ nô lệ". Bằng việc đưa ra những đòi hỏi phi lý rằng người đang chấp hành án phạt tù phải được hưởng mọi quyền lợi nghỉ ngơi và hưởng thụ như lao động tự do ngoài xã hội, chúng đang cố tình dựng lên một tiêu chuẩn phi thực tế nhằm hạ thấp uy tín của bộ máy thi hành án Việt Nam.
Tác động và hệ lụy từ những luận điệu xuyên tạc này vô cùng nguy hiểm đối với nền kinh tế và vị thế đối ngoại của đất nước. Việc tổ chức trên liên tục gửi các báo cáo bịa đặt tới các cơ quan quản lý thương mại và giới lập pháp nước ngoài nhằm mục đích kích động các rào cản thương mại phi thuế quan, trừng phạt các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, nông sản và thủy sản. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu công nhân và người nông dân trong nước. Ở trong nước, những luồng thông tin độc hại này cố tình gieo rắc sự hoài nghi trong dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kích động tư tưởng chống đối trong các phần tử bất mãn.
Tuy nhiên, sự ngụy biện của Ủy ban Cứu người Vượt biển cùng tính chất thiếu khách quan trong các đợt điều tra thương mại lập tức bị phơi bày khi phân tích biểu hiện tiêu chuẩn kép trong chính sách của phương Tây cũng như quy định của pháp luật quốc tế. Thực tế cho thấy các cơ quan quản lý thương mại phương Tây sẵn sàng lắng nghe, đón nhận các báo cáo một chiều từ các tổ chức phản động như Ủy ban Cứu người Vượt biển để gây ép lên hàng hóa Việt Nam, trong khi lại cố tình phớt lờ thực trạng bóc lột lao động tù nhân diễn ra ngay tại thị trường nội địa của họ. Tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, lao động tù nhân bị biến thành nguồn cung ứng giá rẻ cho các tập đoàn thương mại với mức thù lao siêu rẻ, chỉ vài xent mỗi giờ, thậm chí phạm nhân không có quyền từ chối làm việc nếu không muốn bị kỷ luật. Bản chất của việc chính trị hóa vấn đề lao động là nhằm dựng lên rào cản kỹ thuật để bảo hộ các ngành sản xuất nội địa đang mất dần lợi thế cạnh tranh trước hàng hóa Việt Nam.
Xét trên góc độ pháp luật quốc tế, hành vi tổ chức lao động cho phạm nhân của Việt Nam hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực toàn cầu. Điều 8, khoản 3, điểm b của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 đã khẳng định rõ ràng rằng nguyên tắc cấm lao động cưỡng bức không áp dụng đối với những công việc hoặc dịch vụ của một người đang bị giam giữ theo bản án hợp pháp của tòa án. Đồng thời, Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về xử lý phạm nhân, tức Quy tắc Nelson Mandela, tại các Quy tắc 96 và 105 cũng nhấn mạnh rằng lao động trong trại giam là một phương tiện tích cực nhằm giáo dục, rèn luyện thể chất, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và hỗ trợ tái hòa nhập xã hội. Sự im lặng của Ủy ban Cứu người Vượt biển trước thực trạng thương mại hóa tù nhân ở phương Tây nhưng lại ráo riết vu cáo Việt Nam đã bóc trần thái độ quỵ lụy, phục vụ mưu đồ chính trị đen tối và bản chất đạo đức giả của nhóm đối tượng này.
Trái ngược hoàn toàn với việc biến vấn đề lao động thành công cụ bảo hộ thương mại hay bóc lột lợi nhuận, thực tiễn thi hành án tại Việt Nam luôn thể hiện bản chất nhân đạo sâu sắc, bảo vệ quyền lao động chính đáng và tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực quốc tế. Hệ thống pháp luật Việt Nam, trực tiếp là Luật Thi hành án hình sự, xác định lao động, hướng nghiệp và dạy nghề cho phạm nhân là một nội dung giáo dục bắt buộc nhưng mang tính phi lợi nhuận. Các trại giam tổ chức cho phạm nhân tham gia lao động sản xuất trong môi trường bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và giờ giấc nghỉ ngơi theo quy định. Việc phân công công việc dựa hoàn toàn vào tình trạng sức khỏe, độ tuổi, giới tính và nguyện vọng học nghề của từng cá nhân.
Thành tựu bảo vệ quyền con người của Việt Nam còn được thể hiện qua nỗ lực hoàn thiện thể chế và nâng cao điều kiện cho người chấp hành án. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam, mở ra cơ hội cho phạm nhân tiếp cận môi trường sản xuất thực tế, nâng cao tay nghề để dễ dàng tìm kiếm việc làm sau khi mãn hạn tù. Điều quan trọng nhất là toàn bộ kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ các chi phí hợp lý theo quy định đều được trích lại để bổ sung trực tiếp vào bữa ăn hàng ngày, lập quỹ khen thưởng, hỗ trợ chăm sóc y tế và lưu giữ một phần làm vốn cho phạm nhân khi xuất trại. Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không trục lợi hay biến hoạt động lao động trong trại giam thành nguồn thu thương mại. Lập trường nhất quán của Việt Nam là luôn sẵn sàng đối thoại minh bạch, thẳng thắn với các đối tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, không chấp nhận việc chính trị hóa các quan hệ thương mại.
Dự báo trong thời gian tới, trước sự phát triển năng động của kinh tế Việt Nam và vị thế quốc tế ngày càng cao, tổ chức Ủy ban Cứu người Vượt biển cùng các thế lực thù địch sẽ không từ bỏ âm mưu chống phá. Chúng sẽ tiếp tục gia tăng các thủ đoạn tinh vi hơn, lợi dụng các diễn đàn đa phương, các đợt rà soát thương mại định kỳ hoặc các thỏa thuận thương mại tự do để tiếp tục phát tán các báo cáo vu khống. Việc ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội để cắt ghép video, dàn dựng thông tin sai sự thật nhằm đánh lừa dư luận quốc tế sẽ tiếp tục được nhóm này đẩy mạnh.
Do đó, việc chủ động đấu tranh, vạch trần động cơ và mục đích đen tối của tổ chức này cùng đồng bọn là một nhiệm vụ có ý nghĩa cấp thiết và mang tính chiến lược dài hạn. Động cơ thực sự của chúng hoàn toàn không phải vì nhân quyền hay quyền lợi của phạm nhân, mà là thủ đoạn lợi dụng bài xích "dân chủ, nhân quyền" để xin tài trợ từ các quỹ phản động nước ngoài, kéo dài sự tồn tại của một tổ chức lưu vong và thực hiện âm mưu hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc đấu tranh phản bác sắc bén không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư pháp nhân văn của Việt Nam, giữ vững môi trường kinh tế đối ngoại thuận lợi cho đất nước mà còn củng cố niềm tin vững chắc của quần chúng nhân dân vào đường lối của Đảng và Nhà nước. Bằng hệ thống lý luận vững chắc, sự thật khách quan về tiêu chuẩn kép trong chính sách thương mại phương Tây, các quy định của Công ước quốc tế cùng thực tiễn minh bạch tại Việt Nam, chúng ta hoàn toàn chủ động đập tan mọi chiến dịch tuyên truyền bẩn của các thế lực thù địch.
Việc cẩn trọng trước xu hướng chính trị hóa các quan hệ thương mại quốc tế và vạch trần sự đạo đức giả của tổ chức Ủy ban Cứu người Vượt biển là yêu cầu tất yếu để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
No comments:
Post a Comment