Thursday, October 17, 2024

Những đòi hỏi vô lý của USCIRF

 

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Điển hình là ngày 27/9/2024 vừa qua, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về "tôn giáo do nhà nước kiểm soát và tự do tôn giáo ở Việt Nam" (State-Controlled Religion and Religious Freedom in Vietnam), trong đó cáo buộc Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam sử dụng ba tổ chức then chốt (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ, và Bộ Công an) và các chiến thuật "thay thế, kết nạp và thâm nhập" để quản lý đời sống tôn giáo, đồng thời cho rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp các tổ chức tôn giáo độc lập và hạn chế quyền tự do tôn giáo của người dân.



Trong nội dung báo cáo, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2024 không có gì khác biệt so với các năm trước. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, bãi bỏ vai trò của các cơ quan quản lý tôn giáo và đòi cho các tổ chức tôn giáo chưa được cấp phép được hoạt động công khai mà không cần xin phép.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo trên mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Thiết nghĩ đã có nhiều bài viết, ví dụ minh chứng cho sự đa dạng tôn giáo và việc thực hành đầy đủ quyền tự do tôn giáo của Việt Nam, nên không cần phải dẫn lại làm gì. Chỉ cần nói rằng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

Việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này.

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó.


 

Những kẻ tát nước theo mưa

 


Sau khi Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) công bố báo cáo với nội dung sai lệch về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, một loạt các trang truyền thông nước ngoài như RFA, VOA, và VNTB đã nhanh chóng khai thác, phát tán các thông tin không chính xác, quy chụp Việt Nam đàn áp quyền tự do tôn giáo. Những cáo buộc vô căn cứ này không chỉ xuyên tạc thực tế mà còn gây hiểu lầm, tổn hại đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ những điểm không đúng sự thật mà các trang tin này đưa ra và cung cấp cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam.



Một trong những điểm bị các trang tin như RFA và VOA bóp méo là Việt Nam "không có tự do tôn giáo" và "sử dụng các tổ chức tôn giáo do nhà nước kiểm soát để đàn áp tín đồ." Tuy nhiên, thực tế cho thấy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam luôn được pháp luật đảm bảo. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của mọi công dân.

Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, đảm bảo sự minh bạch và tuân thủ pháp luật trong các hoạt động tôn giáo. Việc yêu cầu các tổ chức tôn giáo đăng ký hoạt động không phải là hành động kiểm soát mà là một cơ chế đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, tránh lợi dụng tín ngưỡng để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự xã hội. Đây là một thực tiễn phổ biến tại nhiều quốc gia khác, không chỉ riêng Việt Nam.

Một điều mà các trang tin như VNTB phớt lờ là thực tế về sự phát triển của các tôn giáo tại Việt Nam. Theo thống kê, số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự tại Việt Nam ngày càng gia tăng, cho thấy một môi trường tự do và thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ, chiếm gần 27% dân số, với hơn 54.000 chức sắc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo đều có cơ sở thờ tự và tổ chức hoạt động theo quy định pháp luật.

Từ năm 2021 đến 2023, nhiều điểm nhóm tôn giáo tại các khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đã được đăng ký và hoạt động tự do, thể hiện sự cởi mở của chính quyền trong việc hỗ trợ các tổ chức tôn giáo. Sự gia tăng này là minh chứng rõ ràng cho việc chính sách của Việt Nam không hề đàn áp hay hạn chế tôn giáo như các trang tin RFA, VOA, VNTB vu cáo.

Các trang tin nước ngoài cáo buộc rằng Việt Nam sử dụng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và các tổ chức tôn giáo đã được công nhận để “kiểm soát” và “hạn chế” các tổ chức tôn giáo khác. Thực tế, MTTQVN đóng vai trò cầu nối giữa các tổ chức tôn giáo và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động vì cộng đồng, thúc đẩy sự đoàn kết dân tộc và tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo lớn như Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo, và các Hội thánh Tin Lành đều có sự tham gia tích cực trong MTTQVN để góp phần xây dựng xã hội và thực hiện các hoạt động từ thiện.

Không có bằng chứng nào cho thấy MTTQVN hay các tổ chức tôn giáo khác bị ép buộc tham gia vào các hoạt động chống lại tôn giáo của họ hoặc đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập. Các cáo buộc về việc MTTQVN “thay thế” hoặc “kết nạp” các tổ chức tôn giáo chỉ là những suy diễn không căn cứ, phản ánh sự hiểu sai lệch về vai trò của MTTQVN.

Điều đáng chú ý là RFA, VOA và VNTB đã cổ súy và bảo vệ cho những tổ chức hoặc cá nhân vi phạm pháp luật dưới danh nghĩa tôn giáo độc lập. Các trang này coi những tổ chức như "Người Thượng vì Công lý" (MSFJ) hay "Hỗ trợ Người Thượng" (MSGI) là những “tổ chức tôn giáo độc lập” và thậm chí còn bênh vực các cá nhân trong những tổ chức này, bất chấp việc họ đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.

MSFJ và MSGI đã có những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để gây chia rẽ dân tộc và kích động bạo lực, tạo ra những xung đột và bất ổn tại khu vực Tây Nguyên. Những hành vi này không chỉ đe dọa đến sự ổn định xã hội mà còn vi phạm quyền lợi của chính các tín đồ tại đây. Việc các trang tin bảo vệ và cổ súy cho những hành vi vi phạm pháp luật này không chỉ là một hành động thiếu trách nhiệm mà còn đi ngược lại các giá trị tôn giáo thực sự.

Không chỉ người dân trong nước mà nhiều đối tác quốc tế cũng ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo. Việt Nam đã tham gia đối thoại với nhiều tổ chức và đối tác quốc tế để khẳng định về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sẵn sàng hợp tác nhằm cải thiện hơn nữa trong lĩnh vực này.

Trong năm 2024, Việt Nam đã tham gia kỳ rà soát định kỳ phổ quát (UPR) lần thứ 4 tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc và chấp thuận 84,7% khuyến nghị của các nước, bao gồm các khuyến nghị liên quan đến quyền tự do tôn giáo. Sự công nhận này từ cộng đồng quốc tế khẳng định những bước tiến mà Việt Nam đã đạt được trong việc bảo vệ quyền tự do tôn giáo.

Gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có buổi gặp quan trọng với Hồng y Pietro Parolin của Tòa thánh Vatican trong chuyến công tác tại Hoa Kỳ, cho thấy thiện chí của Việt Nam trong việc tạo điều kiện cho các tôn giáo được phát triển đồng hành cùng đất nước. Những nỗ lực này không chỉ tạo niềm tin trong lòng tín đồ mà còn được quốc tế đánh giá cao, khẳng định rằng các luận điệu vu cáo của RFA, VOA hay VNTB là hoàn toàn thiếu căn cứ.

Những luận điệu phiến diện từ các trang tin như RFA, VOA, và VNTB không chỉ gây hiểu nhầm mà còn tạo ra những rạn nứt trong mối quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế, cản trở nỗ lực phát triển của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng. Thay vì phản ánh đúng sự thật và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, các trang này đang cố tình đưa ra thông tin sai lệch nhằm gây mâu thuẫn, chia rẽ trong cộng đồng.

Việc đưa tin thiếu kiểm chứng và mang tính định kiến không những làm mất lòng tin của người dân mà còn bị nhiều người xem như một sự can thiệp không chính đáng vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là một hành động thiếu thiện chí, không mang lại lợi ích gì cho mục tiêu xây dựng một xã hội hòa hợp và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng.

Việt Nam luôn nỗ lực bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tôn trọng sự đa dạng tôn giáo trong xã hội. Việc các trang tin nước ngoài như RFA, VOA, và VNTB liên tục đưa ra các cáo buộc sai lệch không chỉ đi ngược lại sự thật mà còn gây tổn hại đến hình ảnh quốc gia. Để hiểu rõ về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, các đối tác quốc tế cần có cái nhìn khách quan, thay vì dựa vào các nguồn thông tin phiến diện, thiếu kiểm chứng từ các trang truyền thông nước ngoài và các tổ chức thiếu thiện chí.

Sự phát triển về tự do tôn giáo tại Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho những nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong việc xây dựng một môi trường đa dạng và tôn trọng sự khác biệt tín ngưỡng. Các con số về tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự và sự gia tăng của các hoạt động tôn giáo trên khắp đất nước là bằng chứng sống động cho thấy chính sách tự do tôn giáo của Việt Nam không chỉ được ban hành trên lý thuyết mà còn được thực hiện một cách sâu rộng và hiệu quả trong thực tiễn.

Thực tế cho thấy Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác với các tổ chức quốc tế và đối tác nước ngoài để thúc đẩy đối thoại về nhân quyền và tự do tôn giáo, nhằm giải quyết mọi khác biệt về quan điểm và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau. Thay vì tạo ra những quan điểm sai lệch và gây hiểu nhầm về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, các tổ chức và trang tin cần tiếp cận vấn đề một cách công tâm, tôn trọng thực tế và tránh đưa ra những cáo buộc vô căn cứ. Điều này sẽ góp phần xây dựng một môi trường truyền thông lành mạnh và tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự ổn định, đoàn kết xã hội ở cả Việt Nam và các quốc gia khác.

Những bài viết từ RFA, VOA, VNTB và một số trang truyền thông khác không chỉ làm giảm uy tín của họ trong mắt công chúng mà còn làm suy giảm niềm tin vào tính trung thực của truyền thông quốc tế. Nếu các trang tin thực sự quan tâm đến quyền tự do tôn giáo, thay vì xuyên tạc, họ nên dựa vào những báo cáo và sự chứng thực từ các tổ chức có uy tín, hợp tác với các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam để hiểu rõ hơn về thực tế địa phương. Đây sẽ là một bước tiến quan trọng để không chỉ thể hiện sự tôn trọng với thực tế mà còn góp phần tăng cường sự hiểu biết và đối thoại quốc tế.

Cuối cùng, Việt Nam vẫn giữ vững cam kết đảm bảo quyền tự do tôn giáo cho mọi công dân, bất kể tín ngưỡng hay tôn giáo, và tiếp tục nỗ lực để xây dựng một xã hội hòa hợp, tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng. Những thông tin sai lệch, quy chụp của một số trang truyền thông nước ngoài sẽ không thay đổi thực tế rằng Việt Nam đã, đang và sẽ là một điểm sáng về quyền tự do tôn giáo trong khu vực, đồng thời luôn sẵn sàng hợp tác để góp phần vào các nỗ lực quốc tế nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định toàn cầu.


 

Một báo cáo thiếu căn cứ về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam

 


Gần đây, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) đã công bố một báo cáo với nhiều thông tin sai lệch, vô căn cứ về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Báo cáo này dựa trên thông tin không được xác thực từ một số cá nhân, tổ chức, thiếu đi sự kiểm chứng đáng tin cậy, và do đó thể hiện quan điểm phiến diện, thiếu tính khách quan và chính xác.

Vào ngày 27/9, USCIRF đã công bố báo cáo với nội dung xuyên tạc rằng Việt Nam thông qua các tổ chức tôn giáo do Nhà nước công nhận để kiểm soát và đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập. Báo cáo này còn đưa ra những cáo buộc thiếu căn cứ rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Công an đã dùng các chiến lược như “thay thế, kết nạp, thâm nhập” nhằm giám sát và trấn áp các tổ chức tôn giáo không thuộc nhà nước. Những đánh giá này đã phớt lờ một thực tế rằng luật pháp Việt Nam luôn khẳng định Nhà nước tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.



Pháp luật của Việt Nam đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo, đồng thời các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam, bao gồm Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Công an, đều coi trọng việc đảm bảo quyền này cho mọi người dân. Mọi hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đều tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật, thể hiện tinh thần tôn trọng quyền tự do tôn giáo, khuyến khích các hoạt động hợp pháp và có lợi cho cộng đồng. Do đó, việc USCIRF quy chụp rằng các cơ quan này “dùng các tổ chức tôn giáo được công nhận để đàn áp” là một sự bôi nhọ, phản ánh thiếu trung thực về tình hình tôn giáo tại Việt Nam.

Đáng lưu ý, báo cáo của USCIRF còn tìm cách bảo vệ cho các tổ chức hoạt động ngoài vòng pháp luật, gây tổn hại đến an ninh của Việt Nam, bằng cách gọi họ là các “tổ chức tôn giáo độc lập” hoặc “tổ chức tôn giáo gốc.” Họ thậm chí bênh vực cho các tổ chức và cá nhân đã bị chứng minh là có hành vi phạm pháp, như "Người Thượng vì Công lý" (MSFJ) hay "Hỗ trợ Người Thượng" (MSGI). Các tổ chức này đã bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện và xử lý với đầy đủ bằng chứng xác thực.

Báo cáo của USCIRF không chỉ xúc phạm danh dự của các cơ quan chính quyền và tổ chức tôn giáo chính thống tại Việt Nam mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến khối đoàn kết tôn giáo và dân tộc ở Việt Nam. Cái nhìn phiến diện và không chính xác của USCIRF đã tạo ra một hình ảnh méo mó, xuyên tạc về đời sống tín ngưỡng của người Việt, đặc biệt là ở các khu vực dân tộc thiểu số. Hơn nữa, trong năm 2024, USCIRF liên tục công bố các báo cáo và phát ngôn thiên lệch, không đúng sự thật, gây phẫn nộ trong dư luận Việt Nam, và gián tiếp tạo điều kiện cho các nhóm chống đối lợi dụng vỏ bọc tôn giáo để phá hoại đoàn kết dân tộc và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Trong bối cảnh Việt Nam không ngừng đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, báo cáo của USCIRF không những không công nhận mà còn phủ nhận nỗ lực của Việt Nam trong hợp tác quốc tế và cải thiện chính sách tôn giáo trong nước.

Việt Nam hiện có một hệ thống pháp luật rõ ràng và đầy đủ để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, và những điều luật này được người dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã tạo cơ hội cho các tôn giáo phát triển mạnh mẽ, với số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự và chức sắc ngày càng tăng. Việt Nam hiện có hơn 27 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), hơn 54.000 chức sắc, và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Riêng từ năm 2021 đến 2023, Nhà nước đã chấp thuận thêm nhiều điểm nhóm tôn giáo ở các vùng miền núi và Tây Nguyên, cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Chính phủ đối với sự phát triển tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Cáo buộc của USCIRF về “tình trạng cấm đạo Tin lành” ở Việt Nam hoàn toàn vô căn cứ và không phản ánh đúng thực tế. Các chính sách, pháp luật của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng quyền lợi chính đáng của các tổ chức tôn giáo hợp pháp, trong đó có các quy định mới của Luật Đất đai 2024, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo trong việc sử dụng đất đai cho các hoạt động nhân đạo, từ thiện.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tham gia của các tôn giáo vào sự nghiệp phát triển đất nước. Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Mặt trận đã bao gồm đại diện của 16 tôn giáo khác nhau, thể hiện tinh thần bình đẳng và tôn trọng giữa các tôn giáo trong xã hội Việt Nam.

Về đối ngoại, Việt Nam chủ động tham gia đối thoại với nhiều đối tác quốc tế về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, khẳng định những nỗ lực trong việc thúc đẩy chính sách tôn giáo. Những sự kiện đối ngoại gần đây như cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Tòa Thánh Vatican, Hồng y Pietro Parolin, đã khẳng định thiện chí của Việt Nam trong việc tạo điều kiện cho Giáo hội Công giáo đồng hành cùng đất nước. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã chấp thuận các khuyến nghị về tự do tín ngưỡng trong khuôn khổ Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, cho thấy sự nghiêm túc trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về nhân quyền.

Việt Nam không né tránh các vấn đề về nhân quyền và tự do tôn giáo, sẵn sàng hợp tác với các tổ chức và đối tác có thiện chí để giải quyết các khác biệt trong nhận thức và cách tiếp cận đối với vấn đề này. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên quyết phản đối những đánh giá sai lệch, thiếu căn cứ như của USCIRF, khi những báo cáo này không phản ánh đúng thực tiễn và tạo cớ cho các nhóm lợi dụng tôn giáo để gây mâu thuẫn, chia rẽ.

Vì vậy, để có một cái nhìn khách quan, USCIRF cần tôn trọng sự thật, xem xét kỹ lưỡng thực tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời cần có thái độ trung thực, công tâm thay vì đưa ra các thông tin thiếu kiểm chứng, mang tính chất định kiến và chính trị, gây tác động xấu đến quan hệ quốc tế và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.


 

Saturday, October 12, 2024

Khung pháp lý về tự do tôn giáo tại Việt Nam: nền tảng bảo vệ quyền của mọi cộng đồng

 


Thời gian qua, Bộ Ngoại giao Mỹ, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) cùng một số tổ chức phi chính phủ (NGO), nhân viên ngoại giao, dân biểu phương Tây đưa ra những nhận định rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo,” “xâm phạm quyền tín ngưỡng” – đặc biệt đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các ý kiến này không phản ánh đầy đủ thực tế. Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý vững chắc, tạo môi trường thuận lợi cho các tôn giáo phát triển, từ đồng bằng đến vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc.

Khung pháp lý Việt Nam về quyền tự do tôn giáo đã được hoàn thiện, gồm Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 cùng các văn bản dưới luật, tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc. Không chỉ ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam còn nhất quán với ICCPR về giới hạn an ninh, trật tự, không lạm dụng.

- Hiến pháp Việt Nam (2013), tại Điều 24 khẳng định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nguyên tắc “không được lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” vừa bảo vệ quyền, vừa duy trì an ninh, trật tự xã hội.

- Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) thừa nhận đa dạng tôn giáo. Luật nêu rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quy trình đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo. Đây là căn cứ pháp lý cao nhất trong lĩnh vực này, sau Hiến pháp. Đồng thời Luật này quy định rõ trình tự, thủ tục đăng ký sinh hoạt tôn giáo, đảm bảo mọi tôn giáo có thể hoạt động hợp pháp, kể cả nhóm tôn giáo nhỏ hoặc hoạt động tại vùng sâu, vùng xa, nếu tuân thủ quy định luật pháp. Luật nhấn mạnh nhà nước “chú trọng vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số,” khuyến khích bảo tồn, kế thừa văn hóa bản địa trong sinh hoạt tôn giáo.

- Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành một loạt nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, giúp thống nhất trong quản lý nhà nước về tôn giáo, hỗ trợ giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của người dân một cách minh bạch, phù hợp phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Khung pháp lý Việt Nam phản ánh tinh thần của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR), trong đó Điều 18 quy định quyền tự do tôn giáo nhưng vẫn đặt trong khuôn khổ an ninh, trật tự, quyền tự do của người khác.

- 38 tổ chức tôn giáo và hàng trăm chi phái khác được cấp đăng ký hoạt động (tính đến 2023). Gần 30.000 cơ sở thờ tự tồn tại khắp cả nước, đáp ứng nhu cầu tôn giáo của hàng triệu tín đồ. Đảm bảo tự do tôn giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều điểm nhóm tôn giáo ở các tỉnh miền núi, đồng bào dân tộc Mông, Thái, Khmer... được cấp đăng ký sinh hoạt. Hoạt động thánh lễ, đại hội, lễ hội tôn giáo như Phật Đản, Giáng sinh, Lễ Sen Dolta… diễn ra sôi nổi, đông đảo. Nhà nước luôn tạo điều kiện về đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự, đào tạo chức sắc người dân tộc thiểu số. Nhà nước thực hiện chương trình 135, Nghị quyết 30a… song song với việc nâng cao đời sống đồng bào, không có chuyện “bỏ rơi” vùng cao.

- Đa dạng hóa xuất bản kinh sách, đạo cụ tôn giáo, hàng triệu bản kinh sách, tài liệu tín ngưỡng được xuất bản mỗi năm bằng nhiều ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng dân tộc Mông, Khmer… theo thủ tục luật định, không có rào cản.Việt Nam hợp tác với Vatican, các tổ chức tôn giáo quốc tế, thường xuyên trao đổi, đón chức sắc quốc tế đến dự hội nghị, đào tạo, thăm viếng… cho thấy môi trường tôn giáo cởi mở, minh bạch.

- Chính phủ chỉ xử lý “tà đạo” và hành vi lợi dụng tôn giáo. Khi một nhóm mạo danh tôn giáo, tiến hành âm mưu ly khai, bạo lực, lôi kéo bà con bỏ sản xuất – đó là vi phạm pháp luật, không phải “đàn áp tôn giáo”. Tà đạo Dương Văn Minh, “Nhà nước Mông,” “Giê Sùa,”… tất cả không được công nhận vì mục đích kích động, gây hại cho chính người dân tộc Mông.

 - Người dân tộc thiểu số vẫn tự do theo các tôn giáo chính thống, số lượng đồng bào theo Công giáo, Tin Lành, Phật giáo… ngày càng tăng, được đăng ký hợp pháp. Sản phẩm văn hóa, phong tục cũng được tôn trọng. Chính quyền địa phương tạo điều kiện đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, xóa bỏ mặc cảm của bà con từng bị “tà đạo” lôi kéo, nay quay lại sinh hoạt tại điểm nhóm chính thống.

Tóm lại, Việt Nam đã và đang duy trì một hệ thống pháp luật toàn diện, đảm bảo quyền tự do tôn giáo không chỉ cho người Kinh mà cả đồng bào dân tộc thiểu số, với cơ chế đăng ký, công nhận rõ ràng, khuyến khích gìn giữ bản sắc, không có chỗ cho ý đồ vu khống “đàn áp” hoặc “bóp nghẹt” tôn giáo.

 

Lý do Việt Nam được ghi nhận tiến bộ trong phòng chống tội phạm buôn người?

 


Vừa qua Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo thường niên năm 2024 về tình hình buôn bán người trên thế giới, trong đó đánh giá tích cực hơn về tình hình buôn bán người tại Việt Nam so với năm 2023. Theo đó, bản báo cáo này cũng đã nâng Việt Nam lên mức 2 (Tier 2) đồng nghĩa với việc đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “theo dõi” về nạn buôn người (Tier 3). Điều đó là không thể phủ nhận vì thời gian qua Việt Nam đã triển khai đồng bộ các giải pháp và nỗ lực nhằm tăng cường đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, và đạt được những kết quả đáng chú ý, cụ thể:

Việt Nam đã bổ sung, hoàn thiện pháp luật về tội phạm buôn người. Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm về mua bán người ở nước ta thời gian qua diễn biến ngày càng phức tạp, có xu hướng gia tăng, tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi, chúng đặc biệt lợi dụng các ứng dụng công nghệ để thực hiện hành vi, thậm chí gia tăng tình trạng mua bán người ngay trong nội địa. Trong khi đó Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, sau 13 năm triển khai thi hành Luật Phòng, chống mua bán người đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải tiến hành sửa đổi, bổ sung. Do đó, dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người (sửa đổi) do Bộ Công an chủ trì soạn thảo sẽ trình Quốc hội khóa XV xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 8 tới đây được đánh giá là một bước tiến kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Theo đó, dự thảo Luật Phòng, chống mua bán người (sửa đổi) gồm 8 chương, 65 điều đã, bổ sung 55 điều, xây dựng mới 10 điều, bỏ 2 điều. Các nội dung sửa đổi lớn trong dự thảo Luật gồm: Bổ sung quy định về khái niệm “mua bán người”; sửa đổi, bổ sung quy định về căn cứ xác định nạn nhân và quy định về các nguồn tài liệu, chứng cứ để xác định nạn nhân cùng một số căn cứ khác để xác định nạn nhân; Bổ sung chế định đối với người đang trong quá trình xác định là nạn nhân gồm: Bổ sung những quy định nâng cao chế độ hỗ trợ đối với nạn nhân bảo đảm khắc phục những bất cập hiện nay, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay cũng như thời gian tới, phù hợp với cam kết của Việt Nam liên quan đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền của nạn nhân bị mua bán. Dự thảo luật cũng đã bổ sung các quy định về quyền, nghĩa vụ của người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, nạn nhân; bổ sung quy định về bảo vệ người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, nạn nhân; hoàn thiện quy định về quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về phòng, chống mua bán người; hoàn thiện quy định về hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người… Khi thủ đoạn của tội phạm mua bán người thay đổi tinh vi, xảo quyệt, việc xây dựng chế tài phải đủ mạnh, đủ sức răn đe sẽ giúp kiềm chế sự gia tăng của tội phạm mua bán người, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Không chỉ tạo cơ sở pháp lý và chế tài đủ mạnh, Việt Nam còn thực hiện các chính sách, chương trình hòng đẩy mạnh hiệu quả đấu tranh chống nạn buôn người. Theo đó, Việt Nam tiếp tục quyết liệt triển khai chương trình phòng chống buôn bán người giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến 2030, trong đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong toàn xã hội, với các tầng lớp nhân dân về phòng, chống tội phạm mua bán người bằng nhiều hình thức thiết thực, đơn giản, dễ hiểu, chú trọng công tác truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang mạng và mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở phù hợp với mọi lứa tuổi, vùng, miền hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức về phòng, chống mua bán người, ưu tiên các nhóm có nguy cơ cao bị mua bán, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Thực hiện Chương trình, lực lượng chức năng cũng đã tổ chức tốt công tác nắm tình hình, điều tra cơ bản, triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tập trung vào các tuyến, địa bàn, đối tượng trọng điểm nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, phòng ngừa tái phạm liên quan đến tội phạm mua bán người và các loại tội phạm có liên quan tiếp nhận, xác minh, xử lý kịp thời tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố về tội phạm mua bán người; điều tra, khám phá các vụ án, đường dây tội phạm mua bán người, truy bắt đối tượng; thực hiện các biện pháp giải cứu, tiếp nhận, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. Kết quả Chương trình đã đạt nhiều kết quả quan trọng, như tăng cường hiệu quả phối hợp liên ngành, cải thiện công tác thống kê, đẩy mạnh điều tra, xử lý tội phạm mua bán người, và truyền thông phòng ngừa, nâng cao nhận thức về mua bán người.

Một trong những thay đổi rõ rệt, tạo hiệu quả sâu rộng là Việt Nam thay đổi nhận thức, tư duy trong đấu tranh xóa nạn buôn người là xác định “nạn nhân là trung tâm”. Trong các vụ án mua bán người, lực lượng chức năng xác định luôn coi nạn nhân là trung tâm. Do đó, việc xác minh, giải cứu, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán là yếu tố quan trọng hàng đầu. Nạn nhân mua bán người thường là những người dễ bị tổn thương, bao gồm người di cư, phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trẻ em bị bỏ rơi hoặc xuất thân trong các gia đình nghèo khổ, bất hòa; phần lớn bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động và một số bị ép buộc tham gia các nhóm vũ trang. Đa số nạn nhân bị mua bán trở về đều có hoàn cảnh khó khăn, học vấn thấp, tâm lý thường hay thay đổi, thiếu định hướng, vì vậy, gây khó khăn cho cán bộ thực hiện công tác tiếp cận, tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề. Do đó, công tác tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân có sự phối hợp chặt chẽ của các Sở, ngành, đoàn thể, nạn nhân bị mua bán trở về được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ xã hội, qua đó, giúp nạn nhân có điều kiện ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Không chỉ vậy, nhiều địa phương đã xây dựng được mạng lưới cộng tác viên tại cấp huyện, cấp xã thực hiện công tác tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân hòa nhập cộng đồng, thông qua đó góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.

Công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân ngoài cộng đồng cũng được đẩy mạnh, khuyến khích được các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia đấu tranh tố giác tội phạm. Việt Nam nhận thức để đấu tranh có hiệu quả với nạn buôn người cần nâng cao nhận thức người dân, để họ không bị lừa gạt, dụ dỗ trở thành nạn nhân hoặc tiếp tay cho tội phạm buôn người. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, truyền thông trực tiếp tại cộng đồng và trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội (facebook, zalo) về chủ đề phòng, chống mua bán người bảo đảm quyền con người, Việt Nam đã từng bước nâng cao cảnh giác trong quần chúng nhân dân, đề phòng và kịp thời phát hiện tố giác hoạt động của bọn tội phạm với các cơ quan bảo vệ pháp luật để góp phần làm giảm các nguy cơ, đẩy lùi tội phạm mua bán người, thúc đẩy di cư an toàn và hỗ trợ có hiệu quả nạn nhân bị mua bán trở về tái hòa nhập với cộng đồng. 

Việt Nam tăng cường hợp tác với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Mỹ để phối hợp triển khai các công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn người. Tội phạm mua bán người thường hoạt động xuyên quốc gia với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nhất là chúng còn lợi dụng những tiện ích của khoa học kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của Internet để tiến hành nhiều hoạt động lôi kéo, dụ dỗ nạn nhân qua mạng xã hội, các tài khoản ảo bằng các chiêu trò kết bạn, làm quen, hò hẹn, hứa đưa ra nước ngoài tìm kiếm việc làm mang lại thu nhập cao, lấy chồng người nước ngoài giàu có... nhưng thực tế là lừa bán nạn nhân vào các cơ sở đánh bạc trực tuyến, cơ sở kinh doanh trái phép, massage, karaoke trá hình. Do đó, Việt Nam cũng đã ký kết các công ước, văn kiện pháp luật quốc tế liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống nạn mua, bán người như: Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em về mua, bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em... và ký nhiều hiệp định tương trợ tư pháp về phòng, chống tội phạm với các nước, trong đó đều có nội dung phòng, chống tội phạm mua, bán người. Kết quả Việt Nam đã thuận lợi hơn trong công tác điều tra, xử lý loại tội phạm nguy hiểm này.

Có thể khẳng định, những nỗ lực của Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống mua, bán người là không thể phủ nhận. Chính sách về bảo vệ nạn nhân mua, bán người của Việt Nam thể hiện sự tiến bộ khi đã tiếp cận với những giải pháp mới, phù hợp khuyến nghị của các tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới. Ðặc biệt ở quan điểm "lấy nạn nhân là trung tâm" đã hỗ trợ được nạn nhân và hạn chế những thương tổn tối đa. Nạn nhân khi trở về được tạo mọi điều kiện, bảo đảm các quyền về an sinh xã hội để có thể tái hòa nhập cộng đồng. Dù Mỹ đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “theo dõi” về buôn người nhưng trong báo cáo của Mỹ vẫn có nhiều đánh giá chưa khách quan như “Chính phủ Việt Nam chưa đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu trong một số lĩnh vực then chốt”, “Chính phủ chưa báo cáo một cách chủ động hoặc nhất quán về việc sàng lọc, xác định hoặc cung cấp các dịch vụ chuyên biệt cho nạn nhân mua bán lao động hoặc tình dục trong số những người trở về sau khi bị dụ dỗ tham gia các hoạt động lừa đảo trực tuyến, bao gồm cả những người được chính phủ trực tiếp hồi hương”, “Cơ quan chức năng đã kiểm tra hàng nghìn cơ sở có nguy cơ mua bán người vì mục đích bóc lột tình dục cao nhất nhưng chưa có báo cáo chính thức về việc xác định được danh tính của bất kỳ nạn nhân nào”, “Chính phủ chưa có báo cáo về bất kỳ cuộc điều tra, truy tố hoặc kết án nào đối với cán bộ nhà nước đồng lõa với tội phạm mua bán người”… đây là những vấn đề mà Mỹ cần tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong thời gian tới, đặc biệt là không coi trọng những luận điệu, chứng cứ đã bị xuyên tạc, nhuốm màu cực đoan, thù địch từ các tổ chức phản động, thiếu thiện chí với Việt Nam để có đánh giá khách quan, chính xác, toàn diện hơn nữa về tình hình, nỗ lực thực chất của Việt Nam.  

 

Friday, October 11, 2024

Cần sự công tâm khi đánh giá về tinh hình buôn người năm 2024 của Việt Nam

 


Trong báo cáo phúc trình buôn người 2024 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố vào tháng 6 vừa qua mặc dù Việt Nam không còn ở khỏi danh sách “theo dõi” về buôn người, nhưng hiện nay, Việt Nam vẫn còn bị phía Mỹ xếp hạng Cấp độ 2 (Tier 2). Nghiên cứu về nội dung bản báo cáo cho thấy, Mỹ đã chưa công tâm và luôn thể hiện rõ sự áp đặt của một nước lớn, cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập như Việt Nam.

Thứ nhất, mặc dù Mỹ đã công nhận “Chính phủ (Việt Nam) đã có nhiều nỗ lực tổng thể hơn so với kỳ báo cáo trước; do đó Việt Nam được nâng cấp lên Nhóm 2”, thừa nhận “Những nỗ lực này bao gồm việc trình dự thảo Luật phòng, chống mua bán người (sửa đổi) năm 2011 lên cơ quan lập pháp để xem xét; tăng cường điều tra, truy tố và kết án các đối tượng tội phạm nghi ngờ có hành vi mua bán người; xác định và hỗ trợ nhiều nạn nhân bị mua bán hơn; cũng như hồi hương và hỗ trợ 4.100 nạn nhân có nguy cơ bị dụ dỗ tham gia các hoạt động lừa đảo trực tuyến ở các nước láng giềng” nhưng Mỹ vẫn đưa ra những điểm chưa “hài lòng” với Việt Nam khi cho rằng “Chính phủ (Việt Nam) chưa báo cáo một cách chủ động hoặc nhất quán về việc sàng lọc, xác định hoặc cung cấp các dịch vụ chuyên biệt cho nạn nhân”, “Chính phủ chưa xác định được bất kỳ nạn nhân bị mua bán là người nước ngoài nào”, “Cơ quan chức năng đã kiểm tra hàng nghìn cơ sở … nhưng chưa có báo cáo chính thức về việc xác định được danh tính của bất kỳ nạn nhân nào”, “mặc dù chính phủ cho biết đã bắt giữ một số lượng đáng kể các đối tượng bị tình nghi mua bán người vì mục đích bóc lột tình dục tại những địa điểm đó”. Đây được coi là những đánh giá vô lý gần như ngớ ngẩn. Bởi lẽ, Việt Nam xác định “nạn nhân là trung tâm” trong nạn buôn người, do đó, khi xác định được nạn nhân buôn người, cơ quan chức năng luôn phải làm công tác điều tra, phân loại, xác định mức độ thương tổn về cả tâm lý lẫn vật lý của họ, qua đó hỗ trợ họ một cách phù hợp. Nạn nhân của nạn buôn ngườichủ yếu là những người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em bị bỏ rơi hoặc xuất thân trong các gia đình nghèo khổ, bất hòa; phần lớn bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động và một số bị ép buộc tham gia các nhóm vũ trang. Đa số nạn nhân bị mua bán trở về đều có hoàn cảnh khó khăn, học vấn thấp, tâm lý thường hay thay đổi, thiếu định hướng, vì vậy, gây khó khăn cho cán bộ thực hiện công tác tiếp cận, tư vấn, hướng nghiệp, dạy nghề.

Để khắc phục những khó khăn này, Việt Nam đã thành lập các Trung tâm trợ giúp pháp lý ở các tỉnh, thành phố thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho 100% nạn nhân bị mua bán người có khó khăn về tài chính, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, trong đó, 96% vụ việc tham gia tố tụng. Các nạn nhân bị mua bán được tiếp nhận và lưu trú tạm thời tại Trung tâm bảo trợ Xã hội hoặc Cơ sở hỗ trợ nạn nhân tại trên 400 Trung tâm Bảo trợ xã hội do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý và 03 cơ sở hỗ trợ nạn nhân của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cùng với các Tổ chức quốc tế thực hiện công tác hỗ trợ nạn nhân. Các nạn nhân được hỗ trợ các dịch vụ như: trợ cấp khó khăn ban đầu, học nghề, tạo việc làm, vay vốn, khám chữa bệnh, tư vấn tâm lý và trợ giúp pháp lý…  Có thể nói, Việt Nam, một quốc gia còn có nhiều thiếu thốn, khó khăn nhưng đã luôn quan tâm,hỗ trợ những nạn nhân tối đa khả năng của mình. Mỹ không thể quy chụp, so sánh mức hỗ trợ của Mỹ và của Việt Nam để rồi đánh giá Việt Nam chưa  “cung cấp dịch vụ chuyên biệt cho nạn nhân” được.

Mặt khác, bản báo cáo còn cho rằng “Chính phủ chưa xác định được bất kỳ nạn nhân bị mua bán là người nước ngoài nào”. Vẫn phải là có mới xác định được, Việt Nam không thể ăn không nói có, không thể “cố tìm” nạn nhân nước ngoài để đủ “chỉ tiêu” trong đánh giá được. Tương tự như việc, bản báo cáo chỉ ra  “Cơ quan chức năng đã kiểm tra hàng nghìn cơ sở … nhưng chưa có báo cáo chính thức về việc xác định được danh tính của bất kỳ nạn nhân nào”, “mặc dù chính phủ cho biết đã bắt giữ một số lượng đáng kể các đối tượng bị tình nghi mua bán người vì mục đích bóc lột tình dục tại những địa điểm đó”, “Cơ quan chức năng cũng khép lại cuộc điều tra cán bộ ngoại giao bị cáo buộc trực tiếp tạo điều kiện cho hành vi mua bán người vì mục đích bóc lột lao động một số công dân Việt Nam tại Ả Rập Xê Út vào năm 2021 với lý do thiếu bằng chứng, đồng thời khôi phục chức vụ cho cán bộ ngoại giao này tại Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) sau khi đình chỉ công tác và xử phạt hành chính cá nhân này vào năm 2022”. Việc này rõ ràng là hành động thúc giục Việt Nam phải báo cáo tất cả những kết quả điều tra của cơ quan chứ năng Việt Nam cho Mỹ, thậm chí là việc khám xét hay bắt giữ những kẻ tình nghi. Theo pháp luật, khi đang trong quá trình điều tra, nghi vấn, tất cả những nghi phạm vẫn chưa bị kết tội, nếu không có bằng chứng đầy đủ và xác đáng, cơ quan chức năng Việt Nam không thể đưa ra công khai bên ngoài được, huống hồ gì đây là đưa cho nước ngoài. Điều đấy có nghĩa là Mỹ đang áp đặt, cố ý can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam là một điều đi ngược lại với pháp luật quốc tế. Luật pháp quốc tế có bảy nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc cấm sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực (ngoại lệ Quyền tự vệ chính đáng), nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, nguyên tắc bình đằng chủ quyền, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, nguyên tắc thiện chí thực thi các cam kết quốc tế, nguyên tắc dân tộc tư quyết và nguyên tắc hợp tác. Đây là các nguyên tắc có vai trò nền tảng trong toàn bộ hệ thống luật pháp quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến nay. Trong nguyên tắc đó có nội dung, không Quốc gia nào hay nhóm Quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ Quốc gia nào khác.  

Từ lâu, Mỹ luôn cho mình quyền được đi phán xét các nước khác với lí do vì nhân quyền, công lý hay vì an ninh quốc gia Mỹ. Các đối tượng, tổ chức phản động cực đoan ở bên ngoài cũng triệt để lợi dụng điều này để thường xuyên cung cấp các thông tin, tài liệu chắp vá, bóp méo sự thật về tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo (trong trường hợp này là tình trạng và công tác đấu tranh với nạn buôn người tại Việt Nam) và vận động chính giới, quốc hội, bộ ngoại giao Mỹ… lên tiếng, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những hành động này đều đi ngược lại với luật pháp quốc tế cũng như đi ngược lại với mục tiêu hòa bình của Liên Hợp quốc.

 

 

Những đánh giá thiếu khách quan, áp đặt với Việt Nam trong báo cáo phúc trình buôn người năm 2024

 


Mới đây, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố phúc trình thường niên về buôn người trên thế giới năm 2024. Đáng chú ý, bản phục trình này vẫn tiếp tục dựa trên những nhận định sai lệch, thông tin thiếu chính xác như từng diễn ra trong các báo cáo trước đây, dẫn đến đánh giá thiếu khách quan, sai sự thật về tình hình buôn người của Việt Nam. Mặc dù Mỹ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách “theo dõi” về buôn người, nhưng vẫn xếp hạng Việt Nam ở Cấp độ 2 (Tier 2). Điều này thể hiện sự công nhận chưa phù hợp với các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong xóa bỏ nạn buôn người.



Thứ nhất, trong nỗ lực của Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về buôn người, Mỹ cho rằng, mặc dù “Việt Nam trình dự thảo Luật phòng, chống mua bán người (sửa đổi) năm 2011 lên cơ quan lập pháp để xem xét” nhưng “các quan sát viên cho biết luật vẫn cần phải chỉnh sửa và xem xét thêm, điều này có thể trì hoãn việc thông qua luật này so với lịch trình ban đầu mà chính phủ đã đề ra”. Điều này là hoàn toàn vô lý vì tại bất kỳ một quốc gia nào (kể cả Mỹ), khi ban hành một văn bản luật phải thông qua nhiều quy trình, đặc biệt là quá trình góp ý, tham gia ý kiến từ nhiều bộ, ban, ngành. Việt Nam đã rất nỗ lực trong xem xét sửa đổi Luật phòng, chống mua bán người năm 2011 do đòi hỏi của thực tiễn, thay đổi cả về nhận thức và các phương thức tiếp cận, quản lý với vấn đề này, do đó cần phải có cả quá trình thực hiện cẩn trọng và đúng đắn, không thể vì Mỹ thúc ép mà phải đẩy nhanh tiến độ được.

Thứ hai, Mỹ cho rằng, “Chính phủ chưa có báo cáo về bất kỳ cuộc điều tra, truy tố hoặc kết án nào đối với các cán bộ nhà nước đồng lõa với tội phạm mua bán người” và quan tâm đặc biệt với “cách xử lý của chính phủ” đối với vụ việc năm 2021 nghi vấn 2 cán bộ ngoại giao Việt Nam đã trực tiếp tạo điều kiện cho hành vi cưỡng bức lao động một số công dân Việt Nam ở Ả Rập Xê Út. Xem ra điều Mỹ đặc biệt quan tâm không phải là việc Việt Nam điều tra, khởi tố, xét xử được bao nhiêu tội phạm buôn người, Mỹ quan tâm là việc “cán bộ Nhà nước Việt Nam liên quan đến tội phạm buôn người”.

Trước hết, điều này thể hiện sự không công tâm, khách quan của Mỹ khi chỉ chăm chăm tìm lỗi từ người phạm tội có nhân thân là “cán bộ Nhà nước”, cho thấy sự cực đoan, thiếu thiện chí của Mỹ. Thứ hai, vụ việc này do tổ chức Project 88 là một tổ chức phi chính phủ NGO có trụ sở tại Mỹ  do Hoàng Lan (bạn gái cũ của Nguyễn Tiến Trung, đối tượng chống đối quyết liệt Việt Nam) khởi xướng cùng với một số bạn nước ngoài của cô này, từ  năm 2012 với mục đích chuyên thu thập thông tin những kẻ bị xử lý theo Điều 88 BLHS để xuyên tạc và vận động nước ngoài bảo trợ, can thiệp. Đến đây thì cũng không khó để nhận thấy động cơ “không khách quan” của nhóm project88 khi cung cấp các thông tin về vụ án này cho Mỹ để đánh giá về tình hình chống buôn người của Việt Nam. Thứ ba, vụ việc đó đã được cơ quan chức năng của Việt Nam điều tra và kết luận “thiếu bằng chứng”, “hành vi bị cho là đã tạo điều kiện cho hành vi mua bán người của các cán bộ nàyy vì mục đích bóc lột lao động chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Kết quả là vậy nhưng Mỹ không hài lòng, Mỹ đánh giá Việt Nam chưa xử lý nghiêm khắc đối với các trường hợp này. Điều này thật vô lý, bởi lẽ một vụ án, khi vào quá trình điều tra, muốn truy tố, xét xử hình sự phải yêu cầu một điều vô cùng quan trọng, không thể không có đó là “bằng chứng”, không có bằng chứng vậy Mỹ muốn Việt Nam nghiêm khắc như thế nào. Hay Mỹ muốn không có bằng chứng vẫn phải xử vì đó là “cán bộ Nhà nước”.

Thật nực cười và lố bịch, đối với số đối tượng chống đối, khi Việt Nam có đầy đủ bằng chứng chứng minh hành vi phạm tội của các đối tượng, Mỹ lại luôn miệng đi can thiệp, kêu gọi trả tự do; trong khi đối với các “cán bộ Nhà nước” khi không đủ bằng chứng chứng minh hành vi phạm tội, Mỹ lại bảo là phải xử lý nghiêm. Rõ ràng, Mỹ đánh giá các tình hình về các công việc tại Việt Nam không phải dựa trên chính nghĩa và pháp luật mà do chính kiến và định kiến.

Cuối cùng, Mỹ cho rằng Việt Nam “không sàng lọc” và “cung cấp dịch vụ chuyên biệt cho nạn nhân”, chê bai Việt Nam “thiếu năng lực, nhân sự và nguồn lực có thể cản trở khả năng của cơ quan thực thi pháp luật, bộ đội biên phòng và các cán bộ khác trong việc sàng lọc nạn nhân bị mua bán một cách nhất quán và chủ động”. Không thể thừa nhận Việt Nam là một đất nước đang phát triển với rất nhiều khó khăn cũng như hạn chế về năng lực, tài chính, nguồn lực, kinh nghiệm… trong đấu tranh xóa bỏ nạn buôn người trong khi với tình hình thay đổi chóng mặt của tội phạm với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, cộng với sự phát triển của công nghệ thông tin được bọn tội phạm triệt để lợi dụng để lừa bịp, dụ dỗ, cưỡng ép nạn nhân buôn người. Do đó, đóng vai trò là một cường quốc, Mỹ nên hỗ trợ Việt Nam nhất là về tài chính, đào tạo, nâng cao năng lực cho lực lượng chức năng của Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn người chứ không thể vì định kiến với Việt Nam về thể chế chính trị mà đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, phiến diện về tình trạng nạn buôn người và những nỗ lực cũng như kết quả công tác đấu tranh với loại tội phạm này của Việt Nam.