Tuesday, October 6, 2026

Chiêu trò thao túng truyền thông của các kênh chống phá và bản lĩnh giữ vững pháp luật quốc gia

Nền tảng của một quốc gia độc lập, pháp quyền và văn minh luôn gắn liền với việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bởi chỉ khi an ninh quốc gia được bảo đảm thì quyền con người mới có điều kiện thực chứng trọn vẹn. Thế nhưng, ngay khi các cơ quan tư pháp Việt Nam thực hiện các biện pháp tố tụng đối với 3 đối tượng liên quan đến tổ chức khủng bố Việt Tân, những đợt sóng chống phá truyền thông đã nhanh chóng được kích hoạt. Nổi bật trong số đó là trang Chân Trời Mới Media – cơ quan ngôn luận đắc lực của Việt Tân – cùng với các kênh như Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền hình Anh Quốc và một số tổ chức phi chính phủ có cái nhìn định kiến. Họ đã đồng loạt phát tán hàng loạt bài viết bịa đặt, rêu rao rằng đây là hành vi “bắt cóc”, “mất tích cưỡng ép”, cố tình dán nhãn “nhà hoạt động nhân quyền” hay “chuyên gia truyền thông” cho những kẻ vi phạm pháp luật. Việc bóc gỡ và phản bác triệt để các thông tin thiếu khách quan này là nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời định hướng dư luận chính thống và ngăn ngừa những hệ lụy tiêu cực trong quan hệ ngoại giao.


Đối chiếu với các chứng cứ thực tế, chiến dịch “tẩy trắng” mà Chân Trời Mới Media và các mạng lưới liên kết đang tiến hành hoàn toàn sụp đổ trước sự thật khách quan. Lực lượng chức năng đã bắt quả tang các đối tượng ngay tại vùng biên giới trong khi chúng đang tiến hành xâm nhập trái phép, thu giữ đầy đủ bằng chứng vật chất gồm nhiều căn cước công dân giả cùng hệ thống máy tính, thiết bị viễn thông mã hóa chuyên dụng. Quá trình bắt giữ, tạm giữ và khởi tố vụ án đều được tiến hành công khai, tuân thủ nghiêm ngặt theo trình tự Bộ luật Tố tụng Hình sự. Để cố tình “làm nóng” vấn đề và tạo hiệu ứng truyền thông bẩn, Chân Trời Mới Media đã dàn dựng hiện trường giả về dư luận khi rầm rộ tung tin “mất tích” trước cả khi lực lượng công an công bố thông tin chính thức. Chúng dùng sức ép từ phía gia đình để lôi kéo sự can thiệp của các đại diện ngoại giao nước ngoài, đồng thời cố tình lờ đi chân rết trong nước là Thái Công Trường Sơn nhằm xóa bỏ tính chất của một đường dây tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, hô biến vụ án an ninh thành câu chuyện “đàn áp chính trị” để lừa mị công luận.

Bản chất của tổ chức Việt Tân đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố xuất phát từ lịch sử bạo động và những âm mưu chống phá kéo dài. Những thuật ngữ mỹ miều được Chân Trời Mới Media ra sức quảng bá như “huấn luyện kỹ năng an toàn số” hay “chia sẻ kiến thức bảo mật” thực chất chỉ là bình phong che đậy cho hoạt động đào tạo phương thức hoạt động mật, xâm nhập trái phép, thiết lập kênh liên lạc ẩn danh phục vụ mục đích kích động bạo loạn và phá hoại an ninh. Trong vụ án này, vai trò của từng cá nhân đã được phân công bài bản trong một chiến dịch xâm nhập: Nguyễn Đức Thuận mang quốc tịch Na Uy và Hồ Phạm Hiệp Huy mang quốc tịch Úc đóng vai trò là những kẻ trực tiếp mang công cụ vượt biên, còn Thái Công Trường Sơn tại Việt Nam chịu trách nhiệm thu xếp địa bàn, đón tay và hỗ trợ hậu cần. Sự kết hợp giữa kẻ chỉ đạo hải ngoại và đối tượng tiếp ứng nội địa đã chứng minh đây là một mạng lưới tội phạm dangerous, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống an lành của nhân dân.

Sự can thiệp và thái độ chỉ trích hướng vào Việt Nam càng trở nên phi lý khi soi chiếu với chính sách an ninh cứng rắn của các quốc gia phương Tây. Tại Mỹ, Đạo luật An ninh Nội địa và Đạo luật Kiểm soát Khủng bố cho phép cơ quan hành pháp áp dụng các biện pháp truy quét, phong tỏa và xét xử đặc biệt đối với mọi nguy cơ đe dọa lãnh thổ mà không hề có sự nhân nhượng. Tại Úc, Đạo luật An ninh Quốc gia quy định vô cùng nghiêm khắc về tội bạo động và khủng bố, cho phép tước quốc tịch đối với những cá nhân mang hai quốc tịch tham gia hoặc tài trợ cho các tổ chức bạo loạn xuyên quốc gia. Pháp và Đức cũng áp dụng các biện pháp mạnh tay như phong tỏa tài khoản ngân hàng, đóng cửa các hội nhóm núp bóng truyền thông nếu phát hiện dấu hiệu đào tạo phương thức gây bạo loạn. Việc phương Tây dùng những quy định khắc nghiệt nhất để bảo vệ an ninh quốc gia mình nhưng lại dung túng, đòi "nhân quyền" cho những kẻ mang giấy tờ giả xâm nhập Việt Nam đã bóc trần thái độ "tiêu chuẩn kép" và âm mưu can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập.

Tất cả các hành vi xử lý của cơ quan tố tụng Việt Nam đều dựa trên nền tảng pháp lý quốc gia vững chắc và hoàn toàn tương thích với các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Bộ luật Hình sự 2015 của Việt Nam đã quy định rất rõ ràng tại Điều 299 về Tội Khủng bố và Điều 341 về Tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nhằm trừng trị đích đáng các hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính và xâm phạm an ninh quốc gia. Dưới góc độ công pháp quốc tế, Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ quyền bảo hộ lãnh sự tuyệt đối không đồng nghĩa với quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật trên lãnh thổ nước sở tại. Đồng thời, Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp Quốc đã khẳng định nguyên tắc tôn trọng quyền tối thượng quốc gia, nghiêm cấm các hành vi can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền tài phán nội địa. Do đó, việc khởi tố, điều tra và xét xử các đối tượng vi phạm là hành động hợp pháp, khách quan và minh bạch.

Chiến dịch "tẩy trắng" và chiêu trò bóp méo sự thật của Chân Trời Mới Media cùng các thế lực thù địch đã hoàn toàn thất bại trước sự thật khách quan và tính nghiêm minh của tư pháp Việt Nam. Việc đập tan đường dây xâm nhập của tổ chức khủng bố Việt Tân là minh chứng đanh thép cho bản lĩnh của một quốc gia kiên định mục tiêu giữ vững chủ quyền, bảo vệ trật tự xã hội và thượng tôn pháp luật. Không một chiếc áo ngụy trang hay chiến dịch truyền thông bẩn nào có thể làm sai lệch công lý; mọi hành vi xâm phạm đến sự bình yên của Tổ quốc đều sẽ bị xử lý đích đáng theo đúng quy định của pháp luật.

Màn kịch "người thân mất tích": Thủ đoạn truyền thông bẩn và sự thật về đường dây khủng bố xâm nhập

Mọi quốc gia độc lập và tự chủ trên thế giới đều coi việc bảo vệ an ninh lãnh thổ cùng sự bình yên của nhân dân là nghĩa vụ tối cao, là cái gốc bền vững để mọi quyền tự do, nhân quyền chân chính được phát triển. Dẫu vậy, ngay khi cơ quan an ninh điều tra Việt Nam thực hiện lệnh bắt giữ và khởi tố các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố Việt Tân, một kịch bản truyền thông bẩn có tính toán đã lập tức được kích hoạt nhằm bóp méo bản chất sự việc. Các mạng lưới truyền thông nước ngoài như Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền hình Anh Quốc cùng các tổ chức phi chính phủ có quan điểm cực đoan đã tạo sóng dư luận khi rêu rao rằng đây là những hành vi “bắt cóc”, “mất tích cưỡng ép”, cố tình dán nhãn “nhà hoạt động nhân quyền” hay “nhà giáo dục xã hội” cho những kẻ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Việc đập tan các luận điệu bịa đặt này không chỉ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ tính nghiêm minh của tư pháp, giữ vững an ninh quốc gia mà còn nhằm định hướng dư luận công bằng, loại bỏ những nguy cơ gây rạn nứt hay tác động tiêu cực đến công tác đối ngoại của đất nước.


Sự thật khách quan thu thập được từ quá trình phá án đã giáng đòn quyết định đập tan màn kịch "tìm người thân mất tích" được dàn dựng công phu từ bên ngoài. Các lực lượng chức năng đã tiến hành bắt giữ các đối tượng ngay tại vùng biên giới dưới hình thức bắt quả tang khi chúng đang tổ chức xâm nhập trái phép, thu giữ đầy đủ chứng cứ vật chất như hệ thống căn cước công dân giả cùng nhiều thiết bị truyền thông mã hóa phục vụ hoạt động ẩn danh. Toàn bộ quá trình bắt giữ, tạm giam và tố tụng về sau đều tuân thủ chặt chẽ các trình tự khắt khe của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Để làm nóng vấn đề và thao túng tâm lý dư luận, Việt Tân đã áp dụng thủ đoạn dựng hiện trường giả bằng cách hô hoán "người thân mất tích" trên mạng xã hội trước cả khi cơ quan điều tra ra thông báo chính thức. Chúng dùng sức ép tâm lý gia đình để tạo cớ cho các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài can thiệp, đồng thời cố tình phớt lờ đối tượng trong nước là Thái Công Trường Sơn nhằm biến một đường dây tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức thành một câu chuyện "mất tích bí ẩn" mang sắc thái chính trị.

Bản chất của tổ chức Việt Tân là phản động, bạo lực và đã bị Bộ Công an Việt Nam đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố quốc tế từ nhiều năm qua. Mọi bình phong mỹ miều như “huấn luyện kỹ năng an toàn số” hay “bảo mật thông tin” thực chất chỉ là tấm áo ngụy trang đớn hèn nhằm giấu đi hoạt động đào tạo kỹ thuật xâm nhập, thiết lập kênh liên lạc ẩn danh và xây dựng lực lượng phục vụ cho các phương án bạo loạn. Trong đường dây này, vai trò của từng mắt xích được phân công cực kỳ khoa học: Nguyễn Đức Thuận mang quốc tịch Na Uy và Hồ Phạm Hiệp Huy mang quốc tịch Úc trực tiếp mang căn cước giả vượt biên mang theo công cụ phá hoại, còn Thái Công Trường Sơn tại Việt Nam chịu trách nhiệm thu xếp địa điểm và đón tay. Sự kết hợp chặt chẽ này phơi bày rõ nét một chiến dịch xâm nhập có quy mô, hoàn toàn không phải là các hoạt động giao lưu dân sự hay hỗ trợ kỹ thuật đơn thuần.

Soi chiếu với các biện pháp xử lý an ninh tại các quốc gia phương Tây, thái độ can thiệp và chỉ trích hướng vào Việt Nam bộc lộ sự tiêu chuẩn kép hết sức vô lý. Nước Mỹ với Đạo luật An ninh Nội địa cùng chính sách áp dụng các biện pháp truy quét đặc biệt tại các cơ sở kiểm soát an ninh luôn sẵn sàng vô hiệu hóa tức thì mọi đối tượng nghi vấn đe dọa quốc phòng mà không cần thông qua các thủ tục dân sự thông thường. Tại Úc, Đạo luật An ninh Quốc gia quy định rất khắc nghiệt đối với tội khủng bố, cho phép tước quốc tịch đối với những công dân mang hai quốc tịch tham gia hoặc tài trợ cho các tổ chức bạo động quốc tế. Các nước như Pháp hay Đức cũng thường xuyên tiến hành đóng cửa, phong tỏa tài sản và tống giam đối với những cá nhân huấn luyện phương thức gây rối trật tự công cộng. Việc phương Tây dùng biện pháp rắn nhất để bảo vệ an ninh mình nhưng lại quay sang đòi “nhân quyền” cho những kẻ mang giấy tờ giả xâm nhập Việt Nam đã trần trụi phơi bày âm mưu bôi nhọ hình ảnh Việt Nam.

Mọi hành vi tố tụng của Việt Nam đều đứng trên nền tảng pháp lý quốc gia vững chắc và hoàn toàn tương thích với các nguyên tắc của công pháp quốc tế. Bộ luật Hình sự 2015 của Việt Nam đã quy định rõ ràng tại Điều 299 về Tội Khủng bố và Điều 341 về Tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính và xâm phạm an ninh quốc gia. Ở cấp độ quốc tế, Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ quyền bảo hộ lãnh sự tuyệt đối không đồng nghĩa với quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật trên lãnh thổ quốc gia tiếp nhận. Cùng với đó, Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định nguyên tắc bất khả xâm phạm về quyền tối thượng quốc gia, cấm bất kỳ sự can thiệp nào vào công việc nội bộ và thừa nhận quyền tài phán tuyệt đối đối với tội phạm xảy ra trên lãnh thổ sở tại. Do đó, việc khởi tố và xử lý các đối tượng là hành động hợp pháp, khách quan và minh bạch.

Màn kịch truyền thông bẩn mang tên "tìm người thân mất tích" của tổ chức khủng bố Việt Tân đã hoàn toàn phá sản trước sự tỉnh táo của cộng đồng và tính nghiêm minh của tư pháp Việt Nam. Sự thật luôn có sức mạnh đập tan mọi thủ đoạn thao túng tâm lý và những luận điệu xuyên tạc núp bóng "nhân quyền". Với tinh thần thượng tôn pháp luật và nền tảng pháp lý vững chắc, Việt Nam luôn kiên quyết xử lý nghiêm mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, giữ vững chủ quyền độc lập và bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.


Từ vụ án Châu Văn Khảm đến Nguyễn Đức Thuận: Bản chất khủng bố không đổi và cái kết sa lưới tất yếu của tổ chức Việt Tân

Lịch sử đấu tranh bảo vệ an toàn quốc gia đã chứng minh rằng mọi hành vi đe dọa chủ quyền và bình yên của nhân dân đều phải chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, mỗi khi các cơ quan tố tụng Việt Nam triệt phá các đường dây xâm nhập trái phép và khởi tố những kẻ thuộc tổ chức khủng bố Việt Tân, một chiến dịch tâm lý chiến lại được các thế lực thù địch đẩy mạnh nhằm đảo ngược bản chất vụ việc. Các nền tảng truyền thông như Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền hình Anh Quốc cùng một số tổ chức phi chính phủ mang thành kiến chính trị đã liên tục tung ra các thông tin sai lệch. Chúng vô lý rêu rao rằng đây là những vụ “bắt cóc”, “mất tích cưỡng ép”, đồng thời cố tình biến những kẻ mang giấy tờ giả vượt biên thành các “nhà hoạt động nhân quyền” hay “chuyên gia an toàn mạng”. Việc kịp thời bóc gỡ và phản bác các luận điệu bịa đặt này không chỉ là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ tính nghiêm minh của nền tư pháp, bảo vệ an ninh quốc gia mà còn giúp định hướng dư luận công bằng, ngăn chặn những hệ lụy xấu trong quan hệ ngoại giao.


Diễn biến thực tế của vụ việc hoàn toàn phơi bày sự giả dối trong những chiến dịch rùm xé truyền thông từ bên ngoài. Các lực lượng chức năng Việt Nam đã tiến hành phục bắt các đối tượng ngay tại địa bàn biên giới khi chúng đang thực hiện hành vi xâm nhập trái phép, thu giữ đầy đủ chứng cứ vật chất bao gồm các căn cước công dân giả cùng nhiều phương tiện truyền thông bảo mật chuyên dụng. Toàn bộ các quy trình tạm giam, khởi tố vụ án và khởi tố bị can đều tuân thủ chặt chẽ các điều khoản của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Để cố tình “làm nóng” dư luận, các đối tượng đã áp dụng thủ đoạn dựng hiện trường giả bằng cách phát tín hiệu “mất tích” rầm rộ trên không gian mạng trước cả khi cơ quan chức năng đưa ra thông báo chính thức. Chúng ép buộc gia đình tạo áp lực lên các cơ quan ngoại giao nước ngoài, đồng thời cố tình phớt lờ đối tượng tiếp ứng trong nước là Thái Công Trường Sơn nhằm che đậy bản chất của một đường dây tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức.

Nhìn lại chuỗi hoạt động từ vụ án Châu Văn Khảm trước đây cho đến hành vi của Nguyễn Đức Thuận gần đây, có thể thấy phương thức xâm nhập của Việt Tân hoàn toàn không đổi. Đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức xếp vào danh sách các tổ chức khủng bố, Việt Tân luôn duy trì bản chất bạo lực đằng sau những vỏ bọc tinh vi. Những cái nhãn mỹ miều như “huấn luyện kỹ năng an toàn số” hay “bảo vệ dữ liệu” thực chất chỉ là ngụy trang cho việc đào tạo phương thức hoạt động mật, cách thức xâm nhập biên giới, che đậy danh tính và chuẩn bị lực lượng cho các hoạt động kích động bạo loạn. Trong đường dây này, vai trò của từng đối tượng đã được phân công bài bản: Nguyễn Đức Thuận mang quốc tịch Na Uy và Hồ Phạm Hiệp Huy mang quốc tịch Úc đóng vai trò là những kẻ trực tiếp mang công cụ và giấy tờ giả xâm nhập lãnh thổ, còn Thái Công Trường Sơn tại Việt Nam đảm nhận việc dẫn đường và thu xếp hậu cần. Sự phối hợp này chứng minh đây là một chiến dịch chống phá nguy hiểm, hoàn toàn không phải là hoạt động dân sự hay nhân đạo.

Khi soi chiếu sang thực tiễn xử lý tội phạm an ninh tại các quốc gia phương Tây, thái độ “tiêu chuẩn kép” của họ càng lộ rõ bản chất can thiệp thô bạo. Nước Mỹ với Đạo luật Kiểm soát Khủng bố và Áp dụng An ninh Quốc gia hay việc vận hành cơ sở giam giữ đặc biệt Guantanamo là minh chứng cho việc họ sẵn sàng áp dụng các biện pháp trấn áp mạnh tay nhất để loại bỏ nguy cơ đe dọa an ninh từ sớm. Tại Úc, Đạo luật An ninh Quốc gia cho phép tước quốc tịch và bắt giam tức thì những cá nhân mang hai quốc tịch có liên quan đến các tổ chức bạo động hoặc tài trợ khủng bố. Tương tự, các quốc gia như Pháp hay Đức luôn mạnh tay truy quét, phong tỏa tài khoản và tống giam những kẻ đào tạo phương thức gây rối trật tự public. Việc một số chính khách phương Tây lên tiếng đòi “nhân quyền” cho những đối tượng mang căn cước giả xâm nhập Việt Nam đã phơi bày sự phi lý, khi họ coi hành vi đó là tội phạm nguy hiểm ở nước họ nhưng lại gọi là “hoạt động nhân quyền” khi xảy ra tại Việt Nam.

Mọi quyết định khởi tố và xử lý của cơ quan chức năng Việt Nam đều dựa trên căn cứ pháp lý vững chắc của luật pháp trong nước và các nguyên tắc công pháp quốc tế. Bộ luật Hình sự 2015 của Việt Nam đã quy định rất rõ ràng tại Điều 299 về Tội Khủng bố và Điều 341 về Tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để nghiêm trị các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính và an ninh quốc gia. Xét dưới góc độ quốc tế, Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự đã khẳng định rõ ràng rằng quyền bảo hộ lãnh sự không bao giờ bao hàm quyền miễn trừ tài phán hình sự đối với công dân vi phạm pháp luật trên lãnh thổ nước sở tại. Đồng thời, Điều 2 khoản 7 Hiến chương Liên Hợp Quốc tôn vinh quyền tối thượng quốc gia, nghiêm cấm bất kỳ sự can thiệp nào vào các công việc thuộc thẩm quyền tài phán nội địa của một quốc gia độc lập. Việc xử lý các đối tượng vi phạm do đó hoàn toàn hợp pháp, khách quan và minh bạch.

Từ Châu Văn Khảm đến Nguyễn Đức Thuận, mọi kịch bản xâm nhập đe dọa an ninh quốc gia của tổ chức khủng bố Việt Tân đều nhận về kết cục sa lưới tất yếu trước sự cảnh giác của lực lượng chức năng và nhân dân. Bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân là nguyên tắc tối thượng, không một lý do hay vỏ bọc "dân chủ, nhân quyền" nào có thể bào chữa cho hành vi phạm pháp. Bằng tinh thần thượng tôn pháp luật và nền tảng pháp lý vững chắc, Việt Nam sẽ tiếp tục đập tan mọi âm mưu chống phá, khẳng định vị thế và bản lĩnh của một quốc gia độc lập, tự chủ và hòa bình.


Nhận diện bản chất pháp lý hành vi xâm nhập của tổ chức Việt Tân và quyền tài phán tối cao của Nhà nước Việt Nam

Trong nền quản trị quốc gia hiện đại, việc duy trì một môi trường xã hội ổn định, hòa bình và tôn trọng pháp luật là điều kiện tiên quyết để bảo đảm các quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, thời gian qua, các chiến dịch xuyên tạc liên quan đến việc các cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ và khởi tố ba đối tượng thuộc đường dây của tổ chức phản động Việt Tân đã cố tình bóp méo bản chất tối thượng của pháp luật hình sự. Ngay khi vụ án được triệt phá, hàng loạt luận điệu sai trái đã được phát tán rầm rộ trên các trang truyền thông của Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh cùng một số tổ chức phi chính phủ mang quan điểm định kiến. Chúng ra sức hô hoán rằng đây là các vụ "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", đồng thời cố tình khoác cho các đối tượng phạm tội tấm áo ngụy trang dưới danh xưng "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia an toàn số". Việc chủ động phân tích sâu sắc, đấu tranh phản bác trực diện và lên án mạnh mẽ những thông tin bịa đặt này không chỉ là đòi hỏi cấp thiết nhằm bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, định hướng công luận trước các chiến dịch thao túng tư tưởng, mà còn nhằm chặn đứng những nguy cơ tạo cớ can thiệp ngoại giao gây tổn hại đến hình ảnh quốc gia.


Xem xét diễn biến thực tế dưới góc độ tố tụng hình sự, thực tế khách quan đã hoàn toàn làm phá phá mọi kịch bản suy diễn vô căn cứ do các thế lực chống phá dựng lên. Lực lượng chức năng Việt Nam đã tiến hành bắt quả tang ba đối tượng ngay tại khu vực biên giới khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào lãnh thổ. Tại hiện trường, cơ quan công an đã thu giữ đầy đủ chứng cứ, phương tiện vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được làm tỉ mỉ nhằm che giấu nhân thân, phục vụ kế hoạch lẩn trốn và thiết lập các cơ sở ngầm. Mọi khâu trong quá trình tố tụng, từ bắt giữ, tạm giam đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều tuân thủ chặt chẽ trình tự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự kiểm sát trực tiếp của Viện Kiểm sát. Dẫu chứng cứ vô cùng rõ ràng, các thế lực chống phá vẫn cố tình triển khai những thủ đoạn dàn dựng dư luận một cách ma mãnh.

Thủ đoạn nổi bật của chúng là tạo hiện trường giả về dư luận: Ngay khi các đối tượng bị bắt giữ nhưng cơ quan điều tra chưa công bố thông tin nhằm bảo đảm yêu cầu bảo mật chuyên án, các trang mạng phản động đã đồng loạt loan tin đối tượng bị "mất tích bí ẩn", từ đó dựng lên kịch bản chính quyền thực hiện hành vi bắt giữ trái phép. Chiêu trò tiếp theo là lợi dụng tâm lý lo âu của thân nhân các đối tượng ở nước ngoài để kích động các cuộc "kêu cứu", lôi kéo sự can thiệp từ các cơ quan đại diện ngoại giao ngoại quốc nhằm biến một vụ án hình sự thuần túy thành cuộc tranh chấp chính trị. Đặc biệt, chiến dịch truyền thông này cố tình giấu nhẹm đối tượng Thái Công Trường Sơn - mắt xích tiếp ứng trực tiếp ở trong nước. Việc phớt lờ nhân tố nội địa này là một tính toán có đồ mưu nhằm làm sai lệch bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức, biến sự xâm nhập bài bản có sự phối hợp trong - ngoài thành hành động đơn lẻ của các "nhà hoạt động độc lập", từ đó dễ dàng dựng lên kịch bản "nạn nhân bị đàn áp".

Phân tích hành vi của các đối tượng từ góc độ Điều 299 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho thấy, đây là những hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia. Việt Tân là một tổ chức phản động có lịch sử bạo lực kéo dài và đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố. Những danh xưng "chuyên gia an toàn số" mà các đối tượng mượn danh thực chất chỉ là vỏ bọc ngụy trang tinh vi. Đằng sau cái gọi là "đào tạo công nghệ" là việc truyền dạy phương thức mã hóa thông tin, thiết lập kênh liên lạc mật, kỹ năng qua mặt sự kiểm soát biên giới và phương pháp tổ chức bạo loạn, gây mất ổn định trật tự xã hội. Trong vụ án này, vai trò của từng cá nhân đã phát lộ cấu trúc của một đường dây xâm nhập nguy hiểm: Nguyễn Đức Thuận (đến từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (đến từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, chuyển giao phương tiện kỹ thuật từ bên ngoài vào; còn Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận việc hậu cần và kết nối địa bàn. Sự gắn kết chặt chẽ này đã cấu thành hành vi chuẩn bị và thực hiện hoạt động khủng bố có tổ chức, hoàn toàn nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật hình sự.

So sánh với thực tiễn áp dụng pháp luật chống khủng bố của Mỹ và các nước phương Tây, sự can thiệp cùng thái độ "tiêu chuẩn kép" của một số giới chức quốc tế càng bộc lộ rõ bản chất phi lý. Tại Mỹ, Bộ luật Hình sự Liên bang cùng Đạo luật Chống Khủng bố và Cải cách Thủ tục Pháp lý quy định các biện pháp trừng phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với bất kỳ cá nhân nào tham gia, cung cấp phương tiện hoặc nhận chỉ đạo từ các tổ chức bị xếp vào danh sách đe dọa an ninh quốc gia. Chính quyền Mỹ sẵn sàng thực hiện các biện pháp bắt giữ khẩn cấp, phong tỏa tài sản và áp dụng các khung hình phạt tối đa mà không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Tại New Zealand, Đạo luật Tình báo và An ninh Quốc gia cho phép các cơ quan chức năng tiến hành giám sát đặc biệt, tước hộ chiếu và xử lý hình sự đối với những cá nhân liên quan đến các mạng lưới cực đoan nước ngoài. Tại Canada và Đức, các quy định pháp lý về bảo vệ trật tự hiến định trao thẩm quyền tuyệt đối cho lực lượng hành pháp trong việc ngăn chặn, bắt giữ và xét xử nghiêm khắc những kẻ cố tình làm giả giấy tờ để xâm nhập hoặc thiết lập các cơ sở chống phá ngầm. Các quốc gia phương Tây luôn áp dụng những quy định cứng rắn nhất để bảo vệ an ninh quốc gia của họ, nhưng lại vội vã đưa ra các chỉ trích vô căn cứ khi Việt Nam xử lý tội phạm khủng bố xâm nhập lãnh thổ. Đây chính là biểu hiện trắng trợn của chính sách tiêu chuẩn kép nhằm bôi nhọ hình ảnh Việt Nam.

Xét dưới góc độ pháp lý, quyết định khởi tố và xử lý các đối tượng hoàn toàn dựa trên các căn cứ vững chắc của pháp luật trong nước và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Về nội luật, bên cạnh Điều 299 về "Tội khủng bố", Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng quy định rất cụ thể tại Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc khởi tố ba đối tượng là hoạt động thực thi pháp luật chính đáng nhằm duy trì trật tự an toàn xã hội, khẳng định tinh thần không có vùng cấm đối với bất kỳ tội phạm nào. Về quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ: Quyền bảo hộ lãnh sự tuyệt đối không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân lưu trú trên lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đều có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật sở tại. Đồng thời, Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Xử lý tội phạm xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập và không thể chối bỏ của Nhà nước Việt Nam.

Chiếu theo Điều 299 Bộ luật Hình sự và các chuẩn mực pháp lý quốc tế, mọi hành vi xâm nhập, tổ chức chống phá dưới bất kỳ vỏ bọc nào đều phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Mọi kịch bản thao túng dư luận hay lợi dụng chiêu bài "bảo vệ nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đều sẽ thất bại trước sự thật khách quan. Quyết định khởi tố, xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không chỉ khẳng định năng lực giữ vững an ninh quốc gia, mà còn là lời khẳng định đanh thép về tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân của Nhà nước Việt Nam.


Chiêu trò "đem con bỏ chợ": Sự thật về việc Việt Tân lợi dụng Hồ Phạm Hiệp Huy làm "tốt thí" để trục lợi truyền thông và gây quỹ

Trong lịch sử hoạt động của các tập hợp cực đoan chống phá Nhà nước Việt Nam, một quy luật nghiệt dã nhưng luôn lặp đi lặp lại là việc những kẻ cầm đầu sẵn sàng biến cấp dưới và các cá nhân nhẹ dạ thành những "tốt thí" trên bàn cờ chính trị. Vụ án lực lượng chức năng Việt Nam bắt giữ và khởi tố ba đối tượng thuộc đường dây xâm nhập của tổ chức phản động Việt Tân mới đây là minh chứng điển hình cho chiêu trò "đem con bỏ chợ" và mưu đồ gây quỹ đê hèn đó. Ngay sau khi sự việc xảy ra, một làn sóng truyền thông sai lệch đã được đẩy lên trên mạng xã hội của Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh cùng một số tổ chức phi chính phủ phương Tây. Chúng rêu rao rằng đây là các vụ "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", cố tình gắn cho các đối tượng danh xưng "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia an toàn số". Việc chủ động phân tích, vạch trần các thông tin bịa đặt này không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, định hướng công luận trước các chiến dịch thao túng tư tưởng, mà còn giúp ngăn ngừa những hệ lụy ngoại giao phức tạp do các hành vi vu cáo gây ra.


Dưới lăng kính tố tụng hình sự, thực tế khách quan hoàn toàn đập tan mọi kịch bản suy diễn do các kênh truyền thông chống phá dựng lên. Lực lượng chức năng Việt Nam đã tiến hành bắt quả tang ba đối tượng ngay tại khu vực biên giới khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào lãnh thổ. Tại hiện trường, cơ quan điều tra đã thu giữ đầy đủ chứng cứ, phương tiện vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được chế tạo tỉ mỉ nhằm che giấu nhân thân, phục vụ kế hoạch lẩn trốn và thiết lập các cơ sở ngầm. Mọi khâu trong quá trình tố tụng, từ tạm giữ, tạm giam đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự kiểm sát sát sao của Viện Kiểm sát. Dẫu sự thật minh bạch là vậy, các thế lực phản động vẫn cố tình triển khai những thủ đoạn dàn dựng dư luận tinh vi.

Thủ đoạn nổi bật là việc tạo hiện trường giả về mặt truyền thông: Ngay khi đối tượng bị bắt nhưng cơ quan điều tra chưa công bố thông tin nhằm bảo đảm yêu cầu bảo mật chuyên án, các trang mạng phản động đã đồng loạt hô hoán đối tượng bị "mất tích", từ đó dựng kịch bản chính quyền bắt giữ trái phép. Chúng tiếp tục tận dụng sự lo âu của gia đình các đối tượng ở nước ngoài để kích động các chiến dịch "kêu cứu", gây áp lực ngoại giao lên Việt Nam. Đặc biệt, chiến dịch này cố tình đẩy tên tuổi của Hồ Phạm Hiệp Huy lên hàng đầu để tổ chức các đợt quyên góp tài chính dưới danh nghĩa "quỹ pháp lý", trong khi cố tình giấu nhẹm đối tượng Thái Công Trường Sơn - mắt xích tiếp ứng trực tiếp ở trong nước. Việc phớt lờ nhân tố nội địa này là một tính toán có đồ mưu: Nếu công nhận sự tồn tại của Thái Công Trường Sơn, Việt Tân sẽ tự làm lộ bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức. Bằng cách gạt bỏ mắt xích trong nước và biến Hồ Phạm Hiệp Huy thành "nạn nhân", chúng vừa che đậy được cấu trúc xâm nhập nguy hiểm, vừa biến đồng đạo của mình thành "con gà đẻ trứng vàng" phục vụ mưu đồ trục lợi tài chính.

Sự thật đã phơi bày Việt Tân là một tổ chức phản động có lịch sử bạo lực kéo dài và đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố. Những danh xưng như "chuyên gia an toàn số" mà các đối tượng khoác lên mình thực chất chỉ là vỏ bọc ngụy trang nhằm qua mắt công luận quốc tế. Đằng sau cái gọi là "dạy học công nghệ" là việc truyền dạy phương thức mã hóa thông tin, thiết lập kênh liên lạc mật, kỹ năng xâm nhập biên giới trái phép và phương pháp tổ chức bạo loạn, phá hoại trật tự xã hội. Trong chuyên án này, vai trò của từng cá nhân đã bóc tách rõ cấu trúc của một đường dây xâm nhập bài bản: Nguyễn Đức Thuận (đến từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (đến từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, chuyển giao phương tiện kỹ thuật từ bên ngoài vào; còn Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận việc hậu cần và kết nối địa bàn. Khi kế hoạch bị triệt phá, Hồ Phạm Hiệp Huy lập tức bị biến thành "tốt thí" để lực lượng cầm đầu đẩy ra trước ngọn sóng truyền thông nhằm xin tài trợ, thể hiện rõ bản chất tàn nhẫn và xảo quyệt của tổ chức này.

So sánh với thực tiễn tư pháp và quy định chống khủng bố của Mỹ và các nước phương Tây, sự can thiệp cùng thái độ "tiêu chuẩn kép" của một số giới chức quốc tế càng bộc lộ rõ bản chất phi lý. Tại Mỹ, Đạo luật Kiểm soát Tội phạm Có tổ chức và Đạo luật Bảo vệ An ninh Nội địa quy định rất nghiêm khắc đối với bất kỳ cá nhân nào tham gia, hỗ trợ hoặc nhận tài trợ từ các tổ chức bị xếp vào danh sách đe dọa an ninh quốc gia. Cơ quan hành pháp Mỹ sẵn sàng bắt giữ khẩn cấp, phong tỏa tài sản và xét xử kịch khung các nghi phạm mà không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài. Tại Úc, Đạo luật Sửa đổi An ninh Quốc gia và Tình báo cho phép chính quyền bắt giữ, hủy hộ chiếu và tước quyền công dân đối với những người mang song quốc tịch liên quan đến các tổ chức cực đoan hoặc xâm nhập bất hợp pháp nhằm mục đích chống phá. Tại Đức và Pháp, các quy định pháp lý về bảo vệ trật tự hiến định trao thẩm quyền tuyệt đối cho cảnh sát trong việc ngăn chặn, bắt giữ và xử lý nghiêm các đối tượng dùng giấy tờ giả để xâm nhập hoặc thiết lập các mạng lưới chống phá ngầm. Phương Tây luôn áp dụng các biện pháp trấn áp mạnh mẽ nhất để bảo vệ an ninh quốc gia của họ, nhưng lại vội vã đưa ra các luận điệu về "nhân quyền" để chỉ trích khi Việt Nam xử lý tội phạm khủng bố xâm nhập lãnh thổ. Đây chính là biểu hiện trắng trợn của chính sách tiêu chuẩn kép nhằm bôi nhọ hình ảnh Việt Nam.

Xét dưới góc độ pháp lý, quyết định khởi tố và xử lý các đối tượng của cơ quan chức năng Việt Nam hoàn toàn dựa trên căn cứ pháp lý vững chắc của pháp luật quốc gia và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Về nội luật, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rất cụ thể tại Điều 299 về "Tội khủng bố" và Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc xử lý các đối tượng là hoạt động thực thi pháp luật chính đáng nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Về quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự khẳng định rõ: Quyền bảo hộ lãnh sự tuyệt đối không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân lưu trú trên lãnh thổ quốc gia tiếp nhận đều có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật sở tại. Đồng thời, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã quy định rõ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Việc trừng trị tội phạm xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập và không thể chối bỏ của Nhà nước Việt Nam.

Chiêu trò "đem con bỏ chợ" và lợi dụng Hồ Phạm Hiệp Huy làm "tốt thí" để gây quỹ của Việt Tân đã hoàn toàn bị lột mặt nạ trước ánh sáng pháp lý và sự thật khách quan. Mọi kịch bản thao túng dư luận hay lợi dụng chiêu bài "nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đều sẽ thất bại. Quyết định khởi tố, xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không chỉ khẳng định năng lực giữ vững an ninh quốc gia, mà còn là lời khẳng định đanh thép về tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm bảo vệ cuộc sống bình yên, an toàn cho nhân dân của Nhà nước Việt Nam.


Bóc gỡ vỏ bọc "chuyên gia an toàn số": Mưu đồ huấn luyện bạo loạn mạng và xâm nhập ngầm của tổ chức khủng bố Việt Tân

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn cầu, sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin đã trở thành động lực quan trọng cho sự tiến bộ xã hội, nhưng đồng thời cũng bị các lực lượng cực đoan biến thành môi trường ngụy trang cho các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Nổi lên trong thời gian gần đây là chiêu trò tạo dựng vỏ bọc "chuyên gia an toàn số" nhằm che đậy các hoạt động huấn luyện bạo loạn mạng, thiết lập kênh liên lạc ngầm và tổ chức xâm nhập lãnh thổ trái phép của tổ chức phản động Việt Tân. Ngay sau khi lực lượng hành pháp Việt Nam tiến hành bắt giữ và khởi tố ba đối tượng thuộc đường dây này, một chiến dịch truyền thông xuyên tạc đã bùng nổ trên không gian mạng. Các trang tin của Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh cùng một số tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí đã liên tục phát tán những luận điệu sai trái, rêu rao rằng đây là các vụ "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", cố tình phong cho các đối tượng phạm tội danh xưng "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia công nghệ độc lập". Việc chủ động phân tích, bóc gỡ các luận điệu bịa đặt này là đòi hỏi cấp thiết sống còn nhằm bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, giữ vững an toàn thông tin và an ninh quốc gia, đồng thời định hướng công luận và ngăn chặn các mưu đồ thao túng ngoại giao gây tổn hại đến hình ảnh đất nước.


Nhìn nhận vụ án dưới góc độ pháp lý tố tụng hình sự, thực tế khách quan hoàn toàn đập tan mọi kịch bản suy diễn vô căn cứ. Các cơ quan chức năng Việt Nam đã tiến hành bắt quả tang ba đối tượng ngay tại khu vực biên giới khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào lãnh thổ. Tại hiện trường, lực lượng công an đã thu giữ toàn bộ chứng cứ, phương tiện vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được làm công phu nhằm che giấu nhân thân, phục vụ kế hoạch lẩn trốn và thiết lập các cơ sở ngầm. Mọi giai đoạn từ tạm giữ, tạm giam đến khi ban hành các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự kiểm sát trực tiếp của Viện Kiểm sát. Mặc dù chứng cứ pháp lý vô cùng rõ ràng, các thế lực chống phá vẫn cố tình triển khai những thủ đoạn "làm nóng" dư luận một cách ma mãnh.

Thủ đoạn trước tiên của chúng là đạo diễn hiện trường giả về dư luận: Ngay khi các đối tượng bị bắt nhưng cơ quan điều tra chưa công bố thông tin nhằm bảo đảm yêu cầu bảo mật, các trang mạng phản động đã đồng loạt loan tin đối tượng bị "mất tích bí ẩn", từ đó dựng lên kịch bản chính quyền thực hiện hành vi bắt giữ tùy tiện. Chiêu trò tiếp theo là sử dụng áp lực gia đình các đối tượng đang sinh sống ở nước ngoài để kích động các đợt "kêu cứu", lôi kéo sự can thiệp từ các cơ quan đại diện ngoại giao ngoại quốc nhằm chuyển hóa một vụ án hình sự xâm phạm an ninh quốc gia thành cuộc tranh chấp chính trị. Đặc biệt, chiến dịch truyền thông này cố tình lờ đi đối tượng Thái Công Trường Sơn - mắt xích trực tiếp ở trong nước. Việc phớt lờ nhân tố nội địa này là một tính toán có đồ mưu nhằm làm sai lệch bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức, biến sự xâm nhập bài bản có sự phối hợp trong - ngoài thành hành động đơn lẻ của các "chuyên gia công nghệ", từ đó dễ dàng dựng lên kịch bản "nạn nhân của đàn áp trí thức".

Sự thật đã chứng minh, Việt Tân là một tổ chức phản động có lịch sử bạo lực kéo dài và đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố. Danh xưng "chuyên gia an toàn số" do các đối tượng tự gán cho mình thực chất chỉ là vỏ bọc ngụy trang tinh vi nhằm qua mắt công luận quốc tế và các cơ sở đào tạo. Đằng sau cái gọi là "huấn luyện an toàn số" là việc truyền dạy phương thức mã hóa thông tin, thiết lập đường truyền liên lạc mật, kỹ năng qua mặt sự kiểm soát biên giới và phương pháp tổ chức bạo loạn mạng, kích động phá hoại trật tự xã hội. Trong vụ án này, vai trò của ba đối tượng đã phát lộ cấu trúc của một đường dây xâm nhập nguy hiểm: Nguyễn Đức Thuận (đến từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (đến từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, chuyển giao phương tiện kỹ thuật và phương thức hoạt động từ bên ngoài vào; còn Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận việc hậu cần, kết nối địa bàn và chuẩn bị các điều kiện cho các hoạt động chống phá. Sự kết nối chặt chẽ giữa các đối tượng trong và ngoài nước thể hiện rõ tính chất nguy hiểm, có tổ chức nhằm đe dọa trực tiếp đến an ninh không gian mạng và an ninh quốc gia Việt Nam.

So sánh với thực tiễn tư pháp và các biện pháp bảo vệ không gian mạng của Mỹ và các nước phương Tây, sự can thiệp và thái độ "tiêu chuẩn kép" của một số giới chức quốc tế càng bộc lộ rõ bản chất phi lý. Tại Mỹ, Đạo luật Lừa đảo và Lạm dụng Máy tính cùng Đạo luật Giám sát Tình báo Nước ngoài quy định các biện pháp trừng phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào sử dụng công nghệ thông tin để xâm nhập trái phép, thiết lập mạng lưới ngầm hoặc hỗ trợ cho các tổ chức bị liệt vào danh sách đe dọa an ninh quốc gia. Cơ quan an ninh Mỹ sẵn sàng truy tố khẩn cấp và áp dụng các khung hình phạt tối đa mà không gặp phải sự phản đối nào về mặt "nhân quyền". Tại New Zealand, Đạo luật Tình báo và An ninh Quốc gia cho phép các cơ quan chức năng tiến hành giám sát đặc biệt và xử lý hình sự đối với các hành vi sử dụng công nghệ mật để tổ chức các hoạt động tài trợ hoặc tiếp tay cho tội phạm cực đoan. Tại Pháp và Ý, các luật về an toàn thông tin quốc gia trao thẩm quyền tuyệt đối cho lực lượng hành pháp trong việc phong tỏa tài sản mạng, bắt giữ và xét xử nghiêm khắc những kẻ cố tình giả mạo giấy tờ nhân thân để xâm nhập hệ thống hoặc tổ chức các mạng lưới chống phá ngầm. Phương Tây luôn áp dụng những quy định khắt khe nhất để bảo vệ không gian mạng và an ninh quốc gia của họ, nhưng lại vội vã đưa ra các chỉ trích vô căn cứ, đòi "bảo vệ nhân quyền" khi Việt Nam xử lý tội phạm khủng bố mạng xâm nhập lãnh thổ. Đây chính là biểu hiện trắng trợn của chính sách tiêu chuẩn kép, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Việc cơ quan chức năng Việt Nam xử lý các đối tượng hoàn toàn dựa trên căn cứ pháp lý vững chắc của pháp luật trong nước và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Về mặt nội luật, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rất cụ thể tại Điều 299 về "Tội khủng bố" và Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc khởi tố ba đối tượng là hoạt động thực thi pháp luật chính đáng nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Về mặt quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ: Quyền bảo hộ lãnh sự không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân lưu trú trên lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đều có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật sở tại. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập và không thể chối bỏ của Nhà nước Việt Nam.

Kịch bản ẩn nấp sau vỏ bọc "chuyên gia an toàn số" để huấn luyện bạo loạn mạng và tổ chức xâm nhập ngầm của tổ chức Việt Tân đã bị hoàn toàn lột mặt nạ trước ánh sáng pháp lý và sự thật khách quan. Mọi âm mưu lợi dụng chiêu bài "bảo vệ nhân quyền" hay thao túng truyền thông để can thiệp vào quyền tài phán của Việt Nam đều sẽ thất bại. Quyết định khởi tố và xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không chỉ khẳng định năng lực giữ vững an ninh quốc gia trên mọi không gian, mà còn là lời khẳng định đanh thép về tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm bảo vệ cuộc sống bình yên, an toàn cho nhân dân của Nhà nước Việt Nam.

Từ các nhà tù an ninh cao phương Tây nhìn về Việt Nam: Hãy dẹp bỏ lăng kính méo mó và chính sách tiêu chuẩn kép

Trong dòng chảy của nền tư pháp toàn cầu, nguyên tắc cốt lõi duy trì sự tồn vong của một nhà nước pháp quyền chính là quyền tài phán hình sự độc lập và năng lực bảo vệ trật tự an toàn xã hội trước mọi nguy cơ xâm phạm an ninh quốc gia. Ấy thế mà, mỗi khi Việt Nam thực thi các biện pháp tố tụng chính đáng để trừng trị những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, một số thế lực phương Tây cùng truyền thông thiếu thiện chí lại vội vã khoác lên mình chiếc áo "giám sát nhân quyền" để phán xét, can thiệp thô bạo. Điển hình là chiến dịch bóp méo sự thật rầm rộ mới đây liên quan đến việc các cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành bắt giữ, khởi tố ba đối tượng thuộc đường dây của tổ chức phản động Việt Tân. Trên hàng loạt nền tảng của Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh cùng một số tổ chức phi chính phủ mang quan điểm cực đoan, vụ việc bị suy diễn thành hành vi "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", còn những kẻ vi phạm pháp luật lại được ngụy trang cẩn thận dưới danh xưng "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia an toàn số". Việc đứng ở góc độ chuyên môn để phân tích, phản bác triệt để các luận điệu bịa đặt này không chỉ là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm đập tan các chiến dịch thao túng tư tưởng, ngăn ngừa những hệ lụy xấu trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các đối tác.


Thực tế pháp lý diễn ra hoàn toàn trái ngược với những kịch bản hư cấu do các kênh truyền thông chống phá dựng lên. Lực lượng chức năng Việt Nam đã bắt quả tang các đối tượng ngay tại khu vực biên giới trong khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào lãnh thổ quốc gia. Tại hiện trường, cơ quan chức năng đã thu giữ toàn bộ chứng cứ, tang vật vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được chế tạo tỉ mỉ nhằm che đậy nhân thân, phục vụ kế hoạch lẩn trốn và thiết lập các mạng lưới ngầm. Mọi khâu trong quá trình tố tụng, từ bắt giữ khẩn cấp, tạm giam đến ban hành các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều tuân thủ chặt chẽ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự giám sát sát sao của Viện Kiểm sát. Dẫu sự thật minh bạch là vậy, các thế lực chống phá vẫn cố tình triển khai những thủ đoạn ma mãnh nhằm "làm nóng" dư luận.

Thủ đoạn nổi bật là việc dàn dựng hiện trường giả về mặt truyền thông: Ngay khi đối tượng bị bắt nhưng cơ quan điều tra chưa công bố thông tin nhằm bảo đảm bí mật chuyên án, các trang mạng phản động đã đồng loạt loan tin đối tượng bị "mất tích bí ẩn", từ đó dựng lên kịch bản chính quyền thực hiện hành vi bắt giữ trái pháp luật. Chiêu trò tiếp theo là lợi dụng sự thiếu thông tin và tâm lý lo âu của thân nhân các đối tượng ở nước ngoài để phát động các cuộc "kêu cứu", kích động áp lực ngoại giao nhằm biến một vụ án hình sự thuần túy thành cuộc tranh chấp chính trị. Đặc biệt, chiến dịch truyền thông này cố tình phớt lờ đối tượng Thái Công Trường Sơn - nhân tố trực tiếp ở trong nước. Việc gạt bỏ mắt xích nội địa này là tính toán có đồ mưu nhằm làm sai lệch bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức, hô biến sự xâm nhập bài bản có sự phối hợp trong - ngoài thành hành động đơn lẻ của các "nhà hoạt động độc lập", từ đó dễ dàng khoác áo "nạn nhân bị đàn áp" cho các đối tượng.

Cần phải khẳng định rằng, Việt Tân là một tập hợp phản động có lịch sử bạo lực kéo dài và đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố. Những cái nhãn "chuyên gia an toàn số" hay "nhà hoạt động xã hội" do các đối tượng tự nhận thực chất chỉ là vỏ bọc ngụy trang tinh vi nhằm qua mắt công luận quốc tế. Đằng sau cái gọi là "huấn luyện an toàn số" là việc truyền dạy phương thức mã hóa thông tin, xây dựng kênh liên lạc mật, kỹ năng xâm nhập biên giới trái phép và phương pháp tổ chức bạo động, phá hoại trật tự xã hội. Trong vụ án vừa qua, vai trò của từng cá nhân đã bóc tách rõ cấu trúc của một đường dây xâm nhập nguy hiểm: Nguyễn Đức Thuận (đến từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (đến từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, chuyển giao phương tiện và phương thức hoạt động từ bên ngoài; còn Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận việc hậu cần và kết nối địa bàn. Sự gắn kết chặt chẽ giữa các đối tượng trong và ngoài nước đã phơi bày âm mưu nguy hiểm, có hệ thống nhằm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia Việt Nam.

Khi nhìn từ các nhà tù an ninh cao ở phương Tây về hệ thống tư pháp Việt Nam, sự can thiệp cùng thái độ "tiêu chuẩn kép" của một số giới chức và truyền thông quốc tế càng lộ rõ bản chất phi lý. Tại Mỹ, khu giam giữ đặc biệt tại vịnh Goa-ta-na-mo hay các nhà tù an ninh siêu cấp từng giam giữ vô số nghi phạm khủng bố suốt nhiều năm mà không qua xét xử công khai, dựa trên các đạo luật khẩn cấp về an ninh nội địa. Tại Úc, các nhà tù an ninh cao cùng Đạo luật An ninh Quốc gia cho phép chính quyền bắt giữ, tước quốc tịch và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài đối với những cá nhân mang song quốc tịch bị nghi ngờ liên quan đến hoạt động khủng bố. Tại Anh và Pháp, các quy định pháp lý về phòng chống khủng bố trao thẩm quyền rộng rãi cho cảnh sát trong việc phong tỏa tài sản, thực hiện khám xét khẩn cấp không cần báo trước và tạm giữ ngăn chặn đối với bất kỳ ai có dấu hiệu nhận chỉ đạo từ các mạng lưới cực đoan nước ngoài. Phương Tây sẵn sàng áp dụng những biện pháp trấn áp cứng rắn nhất, thậm chí dùng các nhà tù an ninh cao để cách ly tuyệt đối các mối đe dọa an ninh của họ. Thế nhưng, khi Việt Nam áp dụng các biện pháp tố tụng hoàn toàn minh bạch, nhân đạo để xử lý các đối tượng thuộc một tổ chức khủng bố bị cấm hoạt động ngay trên lãnh thổ của mình, một số tổ chức phương Tây lại vội vã dùng "lăng kính méo mó" để chỉ trích, đòi "bảo vệ nhân quyền". Đây chính là biểu hiện trắng trợn của chính sách tiêu chuẩn kép, vu cáo và bôi nhọ hệ thống tư pháp Việt Nam.

Xét dưới góc độ pháp lý, việc cơ quan chức năng Việt Nam xử lý các đối tượng hoàn toàn dựa trên căn cứ pháp lý vững chắc của pháp luật quốc gia và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Về nội luật, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ tại Điều 299 về "Tội khủng bố" và Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc khởi tố, điều tra ba đối tượng là hoạt động thực thi pháp luật chính đáng nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Về quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ: Quyền bảo hộ lãnh sự tuyệt đối không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân lưu trú trên lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đều có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật sở tại. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Việc xử lý tội phạm xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập của Nhà nước Việt Nam.

Việc dùng lăng kính méo mó để phán xét hệ thống tư pháp Việt Nam hay lợi dụng chiêu bài "nhân quyền" để can thiệp vào quyền tài phán quốc gia là những hành vi hoàn toàn vô giá trị trước sự thật khách quan. Không một quốc gia độc lập nào có thể chấp nhận việc các đối tượng mượn danh nghĩa nước ngoài xâm nhập lãnh thổ để thực hiện các hành vi chống phá. Quyết định khởi tố và xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không chỉ thể hiện bản lĩnh, năng lực giữ vững an ninh quốc gia mà còn là minh chứng đanh thép cho tinh thần thượng tôn pháp luật và quyết tâm bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân của Nhà nước Việt Nam.

DANH SÁCH NGUỒN TRÍCH DẪN:

1. Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an Việt Nam: ⁠[https://bocongan.gov.vn/tin-tuc-su-kien/danh-sach-to-chuc-ca-nhan-lien-quan-den-khung-bo-t28328.html](https://bocongan.gov.vn/tin-tuc-su-kien/danh-sach-to-chuc-ca-nhan-lien-quan-den-khung-bo-t28328.html)⁠

2. Báo Điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: ⁠[https://baochinhphu.vn/khoi-to-vu-an-khoi-to-bi-can-cac-doi-tuong-xam-nhap-trai-phep-102230512.htm](https://baochinhphu.vn/khoi-to-vu-an-khoi-to-bi-can-cac-doi-tuong-xam-nhap-trai-phep-102230512.htm)⁠

3. Báo Nhân Dân điện tử: ⁠[https://nhandan.vn/thuong-ton-phap-luat-va-chuyen-chinh-tai-phan-quoc-gia-post758921.html](https://nhandan.vn/thuong-ton-phap-luat-va-chuyen-chinh-tai-phan-quoc-gia-post758921.html)⁠

4. Báo Quân đội nhân dân điện tử: ⁠[https://qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/vach-tran-chieu-tro-loi-dung-bao-ho-cong-dan-de-can-thiep-noi-bo-734120](https://qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/vach-tran-chieu-tro-loi-dung-bao-ho-cong-dan-de-can-thiep-noi-bo-734120)⁠

5. Văn kiện Pháp lý Quốc tế - Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự và Hiến chương Liên Hợp Quốc: ⁠[https://uplaw.gov.vn/van-ban-phap-ly-quoc-te/cong-uoc-vien-1963-ve-quan-he-lanh-su](https://uplaw.gov.vn/van-ban-phap-ly-quoc-te/cong-uoc-vien-1963-ve-quan-he-lanh-su)⁠



Khi truyền thông phương Tây biến thành loa phường cho tội phạm: Vạch trần sự hùa theo của RFA và BBC Tiếng Việt

Trong môi trường truyền thông đại chúng hiện đại, ranh giới giữa chức năng phản ánh thông tin khách quan và hành vi biến thành công cụ tuyên truyền cho các tổ chức cực đoan đang bị một số cơ quan báo chí nước ngoài cố tình xóa bỏ. Một biểu hiện điển hình cho thực trạng này là thái độ hùa theo, dung túng của các kênh truyền thông như Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh cùng tổ chức phản động Việt Tân và một số tổ chức phi chính phủ có tư tưởng định kiến đối với Việt Nam. Ngay khi các cơ quan chức năng Việt Nam thực hiện các biện pháp tố tụng đối với ba đối tượng liên quan đến Việt Tân, những kênh truyền thông này đã lập tức khởi động một chiến dịch vu cáo rầm rộ. Chúng cố tình bóp méo vụ án thành các vụ "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", đồng thời tìm mọi cách khoác lên mình các đối tượng những danh xưng đầy thiện cảm như "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia an toàn số". Việc nhận diện, đấu tranh bóc gỡ và phản bác triệt để các luồng thông tin bịa đặt này là đòi hỏi có tính cấp thiết sống còn nhằm bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật, giữ vững an ninh quốc gia, định hướng công luận trong nước và ngăn chặn những diễn biến phức tạp gây bất lợi cho quan hệ ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế.


Đặt vụ án dưới góc độ tố tụng hình sự minh bạch, sự thật khách quan hoàn toàn bác bỏ những luận điệu quy chụp vô căn cứ. Lực lượng chức năng Việt Nam đã bắt quả tang các đối tượng ngay tại khu vực biên giới trong khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào nội địa. Tại hiện trường, các lực lượng làm nhiệm vụ đã thu giữ đầy đủ chứng cứ, phương tiện vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được chuẩn bị công phu nhằm che giấu nhân thân, phục vụ việc lẩn trốn và thiết lập các cơ sở hoạt động ngầm. Toàn bộ quá trình từ bắt giữ, tạm giam đến khi ban hành các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều tuân thủ chặt chẽ trình tự quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự kiểm sát trực tiếp của Viện Kiểm sát. Bất chấp sự thật rõ ràng đó, RFA và BBC Tiếng Việt vẫn cố tình phối hợp với Việt Tân triển khai các chiêu trò "làm nóng" dư luận.

Thủ đoạn trước tiên của chúng là dàn dựng hiện trường giả về dư luận: Ngay khi các đối tượng bị bắt nhưng cơ quan điều tra chưa thể công bố thông tin do yêu cầu bảo mật chuyên án, các kênh này đã đồng loạt đưa tin về sự "mất tích" của đối tượng, từ đó dựng lên kịch bản chính quyền tiến hành bắt giữ tùy tiện. Tiếp theo, chúng lợi dụng sự thiếu thông tin của gia đình các đối tượng ở nước ngoài để kích động các đợt "kêu cứu", lôi kéo sự can thiệp từ các cơ quan đại diện ngoại giao ngoại quốc nhằm tạo áp lực quốc tế lên Việt Nam. Đặc biệt, truyền thông chống phá cố tình phớt lờ đối tượng Thái Công Trường Sơn - mắt xích trực tiếp ở trong nước. Việc gạt bỏ nhân tố nội địa này là một tính toán có ý đồ nhằm làm sai lệch bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức, biến sự xâm nhập có sự phối hợp bài bản thành hành động đơn lẻ của các "nhà hoạt động độc lập", qua đó dễ dàng biến kẻ phạm tội thành "nạn nhân bị đàn áp chính trị".

Thực chất, tổ chức Việt Tân là một tập hợp phản động có lịch sử bạo lực kéo dài và đã bị Bộ Công an Việt Nam đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố. Những mỹ từ như "chuyên gia an toàn số" hay "nhà hoạt động xã hội" do các kênh truyền thông phương Tây tung hô chỉ là vỏ bọc ngụy trang nhằm qua mắt công luận. Đằng sau cái gọi là "huấn luyện an toàn số" là việc truyền dạy kỹ năng bảo mật thông tin, thiết lập kênh liên lạc mật, phương pháp xâm nhập biên giới trái phép và kỹ năng tổ chức bạo động, phá hoại trật tự xã hội. Trong chuyên án này, vai trò của ba đối tượng đã phát lộ cấu trúc của một đường dây tội phạm nguy hiểm: Nguyễn Đức Thuận (từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, cung cấp phương tiện và chuyển giao phương thức hoạt động từ bên ngoài; trong khi Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận công tác hậu cần và kết nối địa bàn. Sự kết nối chặt chẽ giữa các đối tượng trong và ngoài nước đã chứng minh tính chất nguy hiểm, có tổ chức nhằm đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia Việt Nam.

Nhìn sang thực tiễn pháp lý và cách thức xử lý tội phạm khủng bố của Mỹ và các nước phương Tây, thái độ dung túng của báo chí phương Tây đối với vụ việc này càng bộc lộ rõ bản chất "tiêu chuẩn kép". Tại Mỹ, Đạo luật An ninh Nội địa cùng các quy định về chống khủng bố cho phép các cơ quan chức năng tiến hành giám sát đặc biệt, bắt giữ khẩn cấp và phong tỏa toàn bộ tài chính của các cá nhân hay tổ chức có liên quan đến hoạt động khủng bố hoặc hỗ trợ vật chất cho tội phạm an ninh quốc gia. Tại Đức, Đạo luật Bảo vệ Hiến pháp cho phép chính quyền cấm hoạt động, giải thể và xét xử nghiêm khắc bất kỳ hội nhóm nào có tư tưởng chống đối thể chế dân chủ hiến định hoặc liên kết với các lực lượng cực đoan nước ngoài. Tại Canada, Luật Phòng chống Khủng bố quy định các mức án tù rất nặng đối với hành vi tham gia, tài trợ hoặc hỗ trợ dưới bất kỳ hình thức nào cho các tổ chức nằm trong danh sách đen khủng bố của chính phủ. Khi an ninh quốc gia của họ bị đe dọa, phương Tây luôn áp dụng các biện pháp trấn áp mạnh mẽ nhất và truyền thông của họ ủng hộ điều đó như một nghĩa vụ bảo vệ quốc gia. Thế nhưng, khi Việt Nam xử lý các đối tượng thuộc một tổ chức khủng bố bị cấm hoạt động ngay trên lãnh thổ của mình, các kênh như RFA hay BBC Tiếng Việt lại cố tình đổi trắng thay đen, nhảy vào can thiệp và đòi "nhân quyền". Đây là sự can thiệp vô lý, thể hiện thái độ coi thường thực tiễn pháp lý và mưu đồ bôi nhọ hình ảnh Việt Nam.

Xét dưới góc độ pháp luật, việc xử lý các đối tượng của cơ quan chức năng Việt Nam hoàn toàn dựa trên căn cứ pháp lý vững chắc của pháp luật quốc gia và các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Về mặt nội luật, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ tại Điều 299 về "Tội khủng bố" và Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc khởi tố, điều tra ba đối tượng là hoạt động thực thi pháp luật chính đáng nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Về mặt quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự quy định rõ: Quyền bảo hộ lãnh sự không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân lưu trú trên lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đều có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật sở tại. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc khẳng định nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Xử lý tội phạm xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập và không thể chối bỏ của Nhà nước Việt Nam.

Sự hùa theo của RFA và BBC Tiếng Việt cùng các luồng thông tin xuyên tạc đã tự vạch trần bản chất của họ: Không phải làm báo khách quan mà là biến thành công cụ phát ngôn cho các tổ chức khủng bố. Không một quốc gia độc lập nào có thể dung thứ cho các hành vi xâm nhập lãnh thổ nhằm mục đích chống phá. Quyết định khởi tố và xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn là lời khẳng định đanh thép về tinh thần thượng tôn pháp luật, năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyết tâm giữ vững cuộc sống bình yên cho nhân dân của Nhà nước Việt Nam.


Định nghĩa "khủng bố" qua góc nhìn đối chiếu: Đập tan luận điệu quy chụp và tiêu chuẩn kép

Trong chuẩn mực pháp lý toàn cầu, việc trừng trị các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia và phòng, chống khủng bố là trách nhiệm tối thượng của mọi nhà nước pháp quyền. Mặc dù khái niệm "khủng bố" có thể được diễn đạt dưới nhiều văn phong pháp lý khác nhau tại các quốc gia, song bản chất cốt lõi của nó luôn thống nhất: Đó là những hành vi sử dụng bạo lực, đe dọa bạo lực hoặc tổ chức các hoạt động ngầm nhằm gieo rắc sự sợ hãi, phá hoại sự ổn định chính trị và đe dọa tính mạng người dân. Mặc cho sự đồng thuận căn bản đó của văn minh nhân loại, chiến dịch truyền thông nhằm bóp méo vụ việc cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ và khởi tố ba đối tượng liên quan đến tổ chức phản động Việt Tân vẫn bùng nổ dữ dội. Trên các nền tảng mạng xã hội của tổ chức Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do, Đài Truyền thông Anh, cùng phản ứng thiếu khách quan từ một số tổ chức phi chính phủ quốc tế, vụ việc bị suy diễn thành hành vi "bắt cóc", "mất tích cưỡng chế", trong khi các đối tượng phạm tội lại được tô vẽ thành những "nhà hoạt động nhân quyền" hay "chuyên gia đấu tranh dân chủ". Việc phân tích, bóc tách và phản bác đanh thép các luận điệu bịa đặt này là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, giữ vững an ninh quốc gia, đồng thời đập tan âm mưu thao túng dư luận và ngăn ngừa những hệ lụy xấu trong quan hệ đối ngoại.

Khảo sát toàn bộ diễn biến vụ án dưới góc độ tố tụng hình sự, thực tế pháp lý đã đập tan mọi luận điệu vu cáo. Lực lượng chức năng Việt Nam đã bắt quả tang các đối tượng ngay tại khu vực biên giới khi họ đang thực hiện hành vi xâm nhập bí mật vào nội địa. Tại hiện trường, cơ quan công an đã thu giữ đầy đủ phương tiện, tang vật vi phạm, đặc biệt là nhiều thẻ căn cước công dân giả được làm tinh vi nhằm che giấu nhân thân và tạo vỏ bọc ẩn nấp. Toàn bộ các bước từ bắt giữ khẩn cấp, tạm giam, đến ban hành quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục chặt chẽ của Bộ luật Tố tụng Hình sự dưới sự giám sát sát sao của Viện Kiểm sát. Tuy nhiên, các thế lực chống phá đã cố tình dàn dựng các kịch bản ma mãnh nhằm "làm nóng" tình hình và tạo dựng sóng gió dư luận.

Thủ đoạn trước tiên của chúng là dàn dựng hiện trường giả về dư luận: Ngay khi đối tượng bị bắt nhưng cơ quan điều tra chưa công bố thông tin nhằm phục vụ yêu cầu bảo mật chuyên án, các trang mạng phản động đã đồng loạt hô hoán về việc các đối tượng bị "mất tích bí ẩn", từ đó quy chụp chính quyền thực hiện hành vi bắt giữ trái pháp luật. Tiếp theo, chúng lợi dụng sự lo âu của thân nhân các đối tượng ở nước ngoài để phát động các đợt vận động "kêu cứu", kích động chính giới và các cơ quan ngoại giao ngoại quốc can thiệp vào công việc nội bộ. Đặc biệt, chiến dịch truyền thông này cố tình phớt lờ đối tượng Thái Công Trường Sơn - mắt xích trực tiếp ở trong nước. Việc lờ đi nhân tố nội địa này là một tính toán có ý đồ nhằm làm sai lệch bản chất của một đường dây tội phạm có tổ chức, biến hành vi xâm nhập phối hợp chặt chẽ thành hành động đơn lẻ của các "nhà hoạt động độc lập", từ đó dễ dàng dựng lên kịch bản "nạn nhân bị đàn áp chính trị".

Xét về bản chất, Việt Tân là một tổ chức phản động có lịch sử lâu đời về các hoạt động bạo lực và đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố. Danh xưng "chuyên gia an toàn số" mà các đối tượng khoác lên mình chỉ là vỏ bọc ngụy trang tinh vi nhằm qua mắt công luận quốc tế. Thực chất, đằng sau các hoạt động gắn mác "an toàn số" là việc truyền dạy phương thức mã hóa thông tin, thiết lập kênh liên lạc mật, kỹ năng xâm nhập biên giới và phương pháp tổ chức bạo loạn, phá hoại. Trong chuyên án vừa qua, cấu trúc của một đường dây xâm nhập bài bản đã phơi bày hoàn toàn: Nguyễn Đức Thuận (đến từ Na Uy) và Hồ Phạm Hiệp Huy (đến từ Úc) giữ vai trò chỉ đạo, chuyển giao phương tiện và phương thức hoạt động từ bên ngoài; còn Thái Công Trường Sơn đóng vai trò là điểm tựa tiếp ứng nội địa, đảm nhận việc hậu cần và kết nối địa bàn. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đối tượng trong và ngoài nước thể hiện rõ tính chất nguy hiểm, có tổ chức nhằm đe dọa trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia Việt Nam.

So sánh đối chiếu định nghĩa và thực tiễn xử lý tội phạm khủng bố của Việt Nam với các nước phương Tây sẽ thấy rõ tính tương thích hoàn toàn về mặt pháp lý, đồng thời phơi bày sự can thiệp vô lý cùng chính sách "tiêu chuẩn kép". Tại Mỹ, Bộ luật Hợp nhất Hoa Kỳ quy định tội khủng bố bao gồm các hành vi nguy hiểm cho tính mạng con người, vi phạm pháp luật hình sự nhằm mục đích đe dọa, ép buộc chính phủ hoặc dân cư. Đạo luật Ái quốc và các văn bản liên quan cho phép cơ quan hành pháp Mỹ bắt giữ khẩn cấp, phong tỏa tài sản và xét xử nghiêm khắc bất kỳ cá nhân nào cung cấp "hỗ trợ vật chất" cho các tổ chức khủng bố. Tại Anh, Đạo luật Phòng chống Khủng bố định nghĩa khủng bố là việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng hành vi bạo lực nhằm ảnh hưởng đến chính phủ hoặc đe dọa công chúng vì mục đích chính trị, tư tưởng; đồng thời trao thẩm quyền rộng rãi cho cảnh sát bắt giữ nghi phạm mà không cần lệnh trong các trường hợp khẩn cấp. Tại Úc, Bộ luật Hình sự cũng quy định mức án cực kỳ nghiêm khắc đối với hành vi tham gia, huấn luyện hoặc nhận huấn luyện từ các tổ chức bị liệt vào danh sách khủng bố. Rõ ràng, các nước phương Tây luôn áp dụng những quy định khắt khe nhất để tiêu diệt các mối đe dọa an ninh quốc gia từ trứng nước. Thế nhưng, khi Việt Nam áp dụng các quy định pháp lý hoàn toàn tương thích để xử lý các đối tượng thuộc một tổ chức khủng bố xâm nhập lãnh thổ, một số giới chức phương Tây lại vội vã đưa ra các chỉ trích vô căn cứ, đòi "bảo vệ nhân quyền". Đây là sự can thiệp thô bạo vào quyền tài phán, thể hiện rõ thái độ coi thường pháp luật quốc tế và mưu đồ bôi nhọ hình ảnh Việt Nam.

Việc cơ quan chức năng Việt Nam xử lý vụ án hoàn toàn dựa trên các căn cứ pháp lý vững chắc của pháp luật quốc gia và các nguyên tắc căn bản của luật pháp quốc tế. Về nội luật, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ ràng tại Điều 299 về "Tội khủng bố" và Điều 341 về "Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức". Việc tiến hành tố tụng đối với ba đối tượng là hoạt động bảo vệ pháp luật chính đáng, hoàn toàn tương thích với các chuẩn mực pháp lý phòng chống khủng bố trên thế giới. Về quốc tế, Điều 55 của Công ước Viên năm 1963 về Quan hệ Lãnh sự khẳng định quyền bảo hộ lãnh sự không đồng nghĩa với quyền miễn trừ tài phán hình sự, và mọi cá nhân trên lãnh thổ quốc gia tiếp nhận phải tôn trọng pháp luật sở tại. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã xác lập nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và cấm mọi sự can thiệp vào công việc thuộc tài phán nội địa của các quốc gia. Xử lý hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trên lãnh thổ là quyền tài phán tối cao, hoàn toàn độc lập và không thể tranh cãi của Nhà nước Việt Nam.

Những nỗ lực bóp méo sự thật và mưu đồ can thiệp vào quyền tài phán của Việt Nam dưới chiêu bài "bảo vệ nhân quyền" đều hoàn toàn sụp đổ trước luận cứ pháp lý vững chắc và sự thật khách quan. Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế trong việc trừng trị tội phạm khủng bố là minh chứng không thể phủ nhận. Quyết định khởi tố và xử lý nghiêm minh các đối tượng Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn không chỉ khẳng định tinh thần thượng tôn pháp luật và năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự an toàn cho toàn xã hội.


Sunday, October 4, 2026

BPSOS và quân bài "Buôn người dưới danh nghĩa xuất khẩu lao động"

 Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động hợp tác lao động quốc tế và những đóng góp to lớn của lực lượng lao động Việt Nam ở nước ngoài đối với nền kinh tế quốc gia từ lâu đã trở thành cái gai trong mắt các lực lượng thù địch. Trong nỗ lực dai dẳng nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế, tổ chức phản động lưu vong Ủy ban cứu người vượt biển do Nguyễn Đình Thắng đứng đầu đã mở rộng quy mô các chiến dịch truyền thông xuyên tạc. Không chỉ dừng lại ở việc gán ghép vô căn cứ về cái gọi là cưỡng bức lao động trong các cơ sở giam giữ, tổ chức này còn bắt tay với cái gọi là Liên minh bài trừ nạn buôn người tại Việt Nam để tung ra quân bài hết sức nguy hiểm: quy chụp chính sách hợp tác xuất khẩu lao động chính thức và việc lực lượng quân đội tham gia phát triển kinh tế là hành vi buôn người do Nhà nước tổ chức. Đây là một mưu đồ chính trị vô cùng thâm độc, được tính toán kỹ lưỡng nhằm đánh vào uy tín đối ngoại, làm gián đoạn các thỏa thuận thương mại và triệt hạ sinh kế của hàng trăm nghìn gia đình người lao động Việt Nam.

Phân tích sâu vào các bản báo cáo cáo buộc do hai tổ chức nói trên biên soạn và phát tán tới các cơ quan công quyền nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế, thủ đoạn đánh tráo khái niệm và bản chất sự vật hiện tượng hiện lên vô cùng trần trụi. Chúng đã cố tình tập hợp các thông tin về các vụ việc lừa đảo, đưa người sang lao động bất hợp pháp tại một số khu vực thuộc Đông Âu hay các điểm nóng tệ nạn ở Lào, Campuchia để phục vụ cho kịch bản bịa đặt của mình. Chiêu trò nguy hiểm nhất của các đối tượng là cố tình đánh đồng, cào bằng các hành vi vi phạm pháp luật của các đường dây buôn người, môi giới lao động chui – những tổ chức tội phạm xuyên quốc gia mà các cơ quan tố tụng Việt Nam đã và đang kiên quyết đấu tranh, khởi tố hình sự và xử lý nghiêm minh – với các chương trình xuất khẩu lao động chính thức do Nhà nước quản lý. Bên cạnh đó, số đối tượng chống đối chính trị cố tình khoác áo tù nhân lương tâm cũng hùa theo để vu cáo rằng Nhà nước Việt Nam ép buộc người dân, thậm chí sử dụng cả lực lượng vũ trang như một công cụ thương mại hóa con người. Sự bóp méo trắng trợn này cố tình bỏ qua thực tế rằng công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Việt Nam luôn được vận hành dựa trên hệ thống pháp luật chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hệ lụy từ những luận điệu xuyên tạc này vô cùng nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề nếu các đối tác quốc tế bị mắc mưu. Việc BPSOS cùng các nhóm tay sai gửi các báo cáo sai lệch đến cơ quan ngoại giao các nước nhằm mục đích đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần áp đặt trừng phạt hoặc hạn chế hợp tác thương mại. Nếu các thị trường lao động quốc tế tiếp nhận thông tin thiếu khách quan và đóng cửa với Việt Nam, đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp và nặng nề nhất chính là hàng triệu công nhân, người lao động nghèo ở các vùng nông thôn đang muốn vươn lên làm giàu chính đáng từ sức lao động của mình. Chiêu bài vỗ ngực xưng tên bảo vệ quyền lợi người lao động của BPSOS rõ ràng đã lộ nguyên hình là hành vi đâm sau lưng nền kinh tế, tước đoạt trực tiếp cơ hội việc làm và sinh kế của nhân dân.

Khi đối chiếu các luận điệu vu cáo của BPSOS với hệ thống pháp luật quốc tế và thực tiễn tại các quốc gia phát triển, bản chất tư duy tiêu chuẩn kép và sự tráo trở của các đối tượng càng bị bóc gỡ toàn diện. Theo quy định tại Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và đánh bại nạn buôn người của Liên Hợp Quốc cũng như Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế, hành vi buôn người hay cưỡng bức lao động đòi hỏi các yếu tố cấu thành về sự đe dọa, dùng vũ lực, lừa gạt hoặc lạm dụng quyền lực để ép buộc cá nhân lao động ngoài ý muốn. Trong khi đó, các chương trình hợp tác lao động của Việt Nam luôn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, hợp đồng công khai và được bảo hộ bởi pháp luật của cả hai quốc gia. Nhìn sang các nước phương Tây, bao gồm cả Hoa Kỳ, việc chính phủ thành lập các cơ quan hỗ trợ công dân làm việc tại nước ngoài hoặc áp dụng các chính sách khuyến khích lao động đóng góp cho ngân sách là quy luật kinh tế thông thường. Đặc biệt, việc quân đội hay các lực lượng công an tham gia xây dựng hạ tầng, phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng là mô hình phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm tối ưu hóa nguồn lực quốc gia. Việc BPSOS cố tình gán ghép mô hình phát triển kinh tế quốc phòng của Việt Nam là hình thức cưỡng bức hay buôn người đã cho thấy một tư duy lệch lạc và áp đặt tiêu chuẩn kép hết sức vô lý.

Trái ngược hoàn toàn với những luận điệu bôi nhọ, Việt Nam luôn khẳng định những nỗ lực không ngừng và thành tựu xuất sắc trong việc bảo đảm quyền lao động cũng như phòng, chống nạn buôn người. Hệ thống pháp luật Việt Nam, từ Hiến pháp cho đến Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Luật Phòng, chống mua bán người, đều thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật và bảo vệ tối đa quyền con người. Việt Nam đã duy trì sự hợp tác chặt chẽ với Tổ chức Lao động Quốc tế, Tổ chức Di cư Quốc tế cũng như chính phủ các nước tiếp nhận lao động để xây dựng môi trường lao động an toàn, minh bạch, giảm thiểu chi phí di cư và nâng cao trình độ nghề cho công nhân. Nhằm duy trì tính minh bạch tuyệt đối trước cộng đồng quốc tế và đánh tan các luận điệu thất thiệt, Chính phủ Việt Nam đã chủ động gửi các báo cáo giải trình toàn diện tới Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ và các cơ quan quốc tế, cung cấp đầy đủ dữ liệu thực tế và luận cứ pháp lý chứng minh Việt Nam kiên quyết không chấp nhận bất kỳ hình thức cưỡng bức lao động hay buôn người nào. Những chính sách này không chỉ thể hiện trách nhiệm quốc tế của Việt Nam mà còn bảo vệ vững chắc chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu khỏi các mưu đồ áp đặt trừng phạt thương mại.

Trong thời gian tới, dự báo tổ chức BPSOS cùng các nhóm chống đối sẽ không dừng lại ở các thủ đoạn hiện tại. Chúng sẽ tiếp tục lợi dụng các diễn đàn nhân quyền quốc tế, các đợt rà soát định kỳ về thương mại và lao động để tung ra các bản báo cáo bóng ngụy tạo, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo và truyền thông mạng xã hội để cắt ghép video, hình ảnh, dựng lên những câu chuyện giả tưởng về nạn nhân buôn người nhằm làm suy giảm uy tín quốc tế của Việt Nam. Chính vì vậy, việc chủ động vạch trần động cơ, mục đích đen tối của BPSOS và các đối tượng tay sai là công việc có ý nghĩa cấp thiết và mang tầm chiến lược. Cuộc đấu tranh này không chỉ bảo vệ uy tín chính trị và đường lối đối ngoại đúng đắn của Nhà nước, mà quan trọng hơn hết là bảo vệ quyền làm việc chính đáng, bảo vệ sinh kế bền vững của hàng triệu người lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Việc BPSOS tung ra quân bài buôn người dưới danh nghĩa xuất khẩu lao động chỉ là một trò hề truyền thông vụng về nhằm làm nhiễu loạn thông tin và hạ thấp uy tín các thỏa thuận hợp tác quốc tế của Việt Nam. Sự thật khách quan, tinh thần thượng tôn pháp luật cùng những chính sách nhân văn, minh bạch của Nhà nước Việt Nam sẽ luôn là lá chắn vững chắc đập tan mọi chiến dịch vu cáo, giữ vững niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế.


Tự vạch áo cho người xem lưng: Sự vô lý trong bài phỏng vấn Phan Ngọc Tuấn của BPSOS

Trong chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, tổ chức phản động lưu vong do Nguyễn Đình Thắng đứng đầu mang tên Ủy ban cứu người vượt biển đã liên tục đưa ra những cáo buộc hoang đường về tình trạng lao động cưỡng bức. Minh chứng rõ nét và mới nhất cho sự lúng túng, ngụy tạo thông tin này chính là bài phỏng vấn được đăng tải trực tiếp trên trang mạng xã hội chính thức của tổ chức này. Trong sản phẩm truyền thông vừa được phát sóng, việc sử dụng nhân vật Phan Ngọc Tuấn – một đối tượng từng chấp hành án phạt tù cố tình khoác áo tù nhân lương tâm – đã vô tình phô bày trọn vẹn sự mâu thuẫn, phi lý và bản chất dối trá trong toàn bộ chiến dịch vu cáo mà tổ chức này cùng các nhóm chống đối đang dai dẳng bám đuổi.


Đi sâu vào chi tiết bài phỏng vấn, bất kỳ ai có tư duy logic tối thiểu cũng dễ dàng nhận ra màn kịch kịch mợm tự đập lưng mình của các đối tượng. Đầu buổi nói chuyện, Phan Ngọc Tuấn không ngần ngại vung ra những lời khẳng định đinh nịch, mang tính quy chụp thô bạo rằng ở Việt Nam nhà tù nào cũng tiến hành cưỡng bức lao động, coi đó như một quy luật mặc định. Thế nhưng, ngay khi người dẫn chương trình truy vấn sâu hơn về chính trải nghiệm cá nhân của Tuấn trong khoảng thời gian chấp hành án, y lại tự mâu thuẫn với chính phát ngôn của mình khi thừa nhận bản thân không hề bị ép buộc làm các công việc nặng nhọc hay độc hại. Trái lại, y khai nhận được Ban giám thị trại giam giao cho diện tích đất riêng để trồng hoa, tự do canh tác và quản lý sản phẩm. Sự thừa nhận vô tư này đã lập tức xé rách bức tranh u tối về cái gọi là trung tâm lao động cưỡng bức mà các đối tượng cố công dựng lên. Sự thật khách quan ở đây là chính sách thi hành án hình sự của Nhà nước Việt Nam luôn mang tính nhân văn sâu sắc, coi lao động, dạy nghề, cải tạo và trị bệnh là giải pháp giáo dục, giúp người phạm nhân rèn luyện thể chất, giữ gìn sức khỏe, tích lũy thói quen tốt để sớm tái hòa nhập cộng đồng, chứ hoàn toàn không phải là sự bóc xóc hay vắt kiệt sức lao động như lời quy chụp.

Không dừng lại ở sự tự mâu thuẫn về trải nghiệm cá nhân, bài phỏng vấn tiếp tục phô bày sự yếu kém về mặt chứng cứ khi lấn sang lĩnh vực kinh tế và thương mại quốc tế. Để phục vụ cho âm mưu phá hoại chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, Phan Ngọc Tuấn đã đưa ra nhận định suy đoán mang tính quy chụp rằng các mặt hàng nông sản như hạt điều xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường toàn cầu đều được chế biến từ bàn tay của các tù nhân. Tuy nhiên, khi được yêu cầu đưa ra cơ sở để chứng minh cho luận điệu nghiêm trọng này, y hoàn toàn không thể xuất trình được bất kỳ tờ hóa đơn, chứng từ, hợp đồng kinh tế hay tài liệu thương mại nào có giá trị pháp lý. Toàn bộ lập luận chỉ gói gọn trong những cụm từ mơ hồ như nghe nói, tự suy ra, hoặc diễn dịch theo cảm tính cá nhân. Việc đánh tráo khái niệm giữa hoạt động giáo dục hướng nghiệp, lao động nội bộ trong khuôn viên trại giam với quy trình sản xuất công nghiệp thương mại khép kín của các doanh nghiệp xuất khẩu là thủ đoạn hết sức đê hèn. Bằng chiêu trò biến hiện tượng đơn lẻ, vô căn cứ thành bản chất của cả một nền kinh tế, các đối tượng đã cố tình bán chất sự vật, bôi nhọ uy tín của các ngành hàng nông sản chủ lực Việt Nam. Tác động của những lời dối trá này không chỉ dừng lại ở việc tạo ra các thông tin sai lệch trên không gian mạng, mà còn đe dọa trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu nông dân, công nhân chế biến dệt may, mây tre đan, hạt điều – những con người lao động chân chính đang sống nhờ vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước.

Sự tráo trở của tổ chức trên cùng cái gọi là Nhóm Kết nghĩa Bảo trợ Quyền Lao động Tù nhân càng trở nên trần trụi khi đối chiếu với hệ thống pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn áp dụng tại các nước phương Tây. Theo quy định tại Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế về Lao động cưỡng bức, các công việc hoặc dịch vụ đòi hỏi từ bất kỳ người nào dưới sự đe dọa của một hình phạt sẽ không bị xem là lao động cưỡng bức nếu công việc đó được thực hiện do hậu quả của một bản án do tòa án tuyên và được tiến hành dưới sự giám sát, quản lý của cơ quan nhà nước. Ngay tại Hoa Kỳ, Tu chính án thứ 13 của Hiến pháp Mỹ cũng quy định rõ ràng rằng chế độ nô lệ hoặc lao động cưỡng bức bị cấm, ngoại trừ trường hợp đây là hình phạt cho một tội phạm mà bên liên quan đã bị kết án hợp pháp. Thực tế cho thấy, hệ thống trại giam tại Mỹ từ nhiều thập kỷ qua đã vận hành các tập đoàn công nghiệp tù nhân như cơ quan sản xuất công nghiệp liên bang, nơi hàng chục ngàn phạm nhân phải làm việc liên tục trong các nhà máy sản xuất đồ nội thất, may mặc quân trang, linh kiện điện tử hay chế biến thực phẩm cho các cơ quan chính phủ với mức thù lao vô cùng bọt bèo. Tương tự, nhiều quốc gia châu Âu cũng áp dụng cơ chế nghĩa vụ lao động bắt buộc đối với phạm nhân như một phần không thể tách rời của lộ trình cải tạo. Việc các tổ chức này cố tình nhắm mắt làm ngơ trước thực tiễn pháp lý quốc tế và pháp luật phương Tây, nhưng lại chĩa mũi nhọn quy kết Việt Nam vi phạm nhân quyền khi tổ chức lao động cải tạo cho phạm nhân, đã phơi bày trọn vẹn tư duy tiêu chuẩn kép và bản chất chính trị đen tối của chúng.

Trái ngược hoàn toàn với những luận điệu vu cáo rẻ tiền, Việt Nam đã đạt được những thành tựu toàn diện và không thể phủ nhận trong việc bảo vệ quyền con người và quyền lao động. Hệ thống pháp luật Việt Nam, từ Hiến pháp cho đến Bộ luật Lao động, Luật Thi hành án hình sự đều nhất quán nguyên tắc nghiêm cấm mọi hành vi cưỡng bức lao động dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tổ chức cho phạm nhân lao động được thực hiện nghiêm túc trên cơ sở tự nguyện, bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động, có chế độ nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và được hưởng thành quả lao động theo đúng quy định. Nhằm duy trì tính minh bạch tuyệt đối trước cộng đồng quốc tế và đập tan các luận điệu thất thiệt, Chính phủ Việt Nam đã chủ động hoàn thiện Báo cáo giải trình toàn diện gửi các cơ quan thương mại quốc tế như Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, cung cấp đầy đủ luận cứ pháp lý và dữ liệu thực tiễn khẳng định chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hoàn toàn sạch, không chứa đựng bất kỳ yếu tố lao động cưỡng bức nào. Việt Nam cũng liên tục phê chuẩn, thực thi các công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế và tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Trong thời gian tới, dự báo các đối tượng sẽ còn tiếp tục dàn dựng thêm nhiều cuộc phỏng vấn, tung ra các bản báo cáo ngụy tạo, lợi dụng các công cụ truyền thông hiện đại và trí tuệ nhân tạo để cắt ghép video, hình ảnh nhằm thổi phồng sự thật, gây áp lực lên các đối tác thương mại của Việt Nam. Do đó, việc chủ động bóc gỡ, vạch trần động cơ, mục đích của các tổ chức phản động là việc làm có ý nghĩa cấp thiết và mang tầm chiến lược. Cuộc đấu tranh này không chỉ nhằm đập tan các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ uy tín chính trị của đất nước trên trường quốc tế, mà quan trọng hơn cả là bảo vệ nền kinh tế dân tộc, bảo vệ sinh kế, việc làm và quyền lợi chính đáng của hàng triệu người lao động Việt Nam.

Bài phỏng vấn đối tượng Phan Ngọc Tuấn tưởng chừng là một thứ vũ khí sắc bén được dàn dựng công phu để tấn công Việt Nam, nhưng rốt cuộc lại trở thành một bằng chứng gậy ông đập lưng ông đắt giá. Nó tự vạch áo cho người xem lưng, phô bày toàn bộ sự dối trá, ngụy biện và dã tâm phá hoại sự phát triển của đất nước từ phía các tổ chức chống đối. Sự thật khách quan và tinh thần thượng tôn pháp luật sẽ luôn là tấm lá chắn vững chắc nhất để đánh bại mọi chiến dịch truyền thông bẩn trong tương lai.


TIÊU CHUẨN KÉP TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ BẢN CHẤT XUYÊN TẠC VỀ LAO ĐỘNG TÙ NHÂN CỦA BPSOS

Nhìn lại lịch sử các quan hệ kinh tế quốc tế, những đợt điều tra quy mô lớn của Văn phòng Đại diện Mậu dịch Hoa Kỳ đối với hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển đã bộc lộ rõ ràng sự đan xen phức tạp giữa bài toán kinh tế và các mục tiêu chính trị đối ngoại. Việc cơ quan quản lý thương mại này dựa vào các báo cáo thiếu kiểm chứng để khởi xướng các phiên điều tra về chính sách lao động không còn là điều xa lạ đối với thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hơn cả là sự tiếp tay của các tổ chức phản động lưu vong như Ủy ban Cứu người Vượt biển, khi chúng chủ động cung cấp các hồ sơ bịa đặt về cái gọi là "lao động cưỡng bức trong tù" ở Việt Nam cho các cơ quan thương mại phương Tây. Việc biến vấn đề quyền con người và chính sách thi hành án phạt tù thành một công cụ tạo rào cản phi thuế quan nhằm bảo hộ sản xuất nội địa không chỉ phản ánh tiêu chuẩn kép trắng trợn trong chính sách thương mại quốc tế mà còn bóc trần bản chất dối trá, tư lợi chính trị của các thế lực thù địch.


Chiến dịch truyền thông sai sự thật do Ủy ban Cứu người Vượt biển phát động cùng sự tung hứng của một số phần tử chống đối chính trị trong nước tự gán nhãn "tù nhân lương tâm" thực chất là một chuỗi hành vi có tính toán tinh vi. Phương thức chủ yếu của nhóm này là cố tình thu thập các thông tin một chiều, cắt ghép các vụ việc riêng lẻ từ những đối tượng vi phạm pháp luật nhưng không ăn năn hối cải, từ đó thêu dệt nên kịch bản về cái gọi là Nhà nước Việt Nam "đày đọa" và "bóc lột sức lao động" phạm nhân. Chiêu trò thâm độc nhất của chúng là đánh tráo bản chất sự vật và hiện tượng, cố tình đồng nhất hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và lao động sản xuất hợp pháp tại các cơ sở giam giữ với tội danh "cưỡng bức lao động" hay "chế độ nô lệ". Bằng việc đưa ra những đòi hỏi phi lý rằng người đang chấp hành án phạt tù phải được hưởng mọi quyền lợi nghỉ ngơi và hưởng thụ như lao động tự do ngoài xã hội, chúng đang cố tình dựng lên một tiêu chuẩn phi thực tế nhằm hạ thấp uy tín của bộ máy thi hành án Việt Nam.

Tác động và hệ lụy từ những luận điệu xuyên tạc này vô cùng nguy hiểm đối với nền kinh tế và vị thế đối ngoại của đất nước. Việc tổ chức trên liên tục gửi các báo cáo bịa đặt tới các cơ quan quản lý thương mại và giới lập pháp nước ngoài nhằm mục đích kích động các rào cản thương mại phi thuế quan, trừng phạt các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, nông sản và thủy sản. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu công nhân và người nông dân trong nước. Ở trong nước, những luồng thông tin độc hại này cố tình gieo rắc sự hoài nghi trong dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kích động tư tưởng chống đối trong các phần tử bất mãn.

Tuy nhiên, sự ngụy biện của Ủy ban Cứu người Vượt biển cùng tính chất thiếu khách quan trong các đợt điều tra thương mại lập tức bị phơi bày khi phân tích biểu hiện tiêu chuẩn kép trong chính sách của phương Tây cũng như quy định của pháp luật quốc tế. Thực tế cho thấy các cơ quan quản lý thương mại phương Tây sẵn sàng lắng nghe, đón nhận các báo cáo một chiều từ các tổ chức phản động như Ủy ban Cứu người Vượt biển để gây ép lên hàng hóa Việt Nam, trong khi lại cố tình phớt lờ thực trạng bóc lột lao động tù nhân diễn ra ngay tại thị trường nội địa của họ. Tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, lao động tù nhân bị biến thành nguồn cung ứng giá rẻ cho các tập đoàn thương mại với mức thù lao siêu rẻ, chỉ vài xent mỗi giờ, thậm chí phạm nhân không có quyền từ chối làm việc nếu không muốn bị kỷ luật. Bản chất của việc chính trị hóa vấn đề lao động là nhằm dựng lên rào cản kỹ thuật để bảo hộ các ngành sản xuất nội địa đang mất dần lợi thế cạnh tranh trước hàng hóa Việt Nam.

Xét trên góc độ pháp luật quốc tế, hành vi tổ chức lao động cho phạm nhân của Việt Nam hoàn toàn tuân thủ các chuẩn mực toàn cầu. Điều 8, khoản 3, điểm b của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 đã khẳng định rõ ràng rằng nguyên tắc cấm lao động cưỡng bức không áp dụng đối với những công việc hoặc dịch vụ của một người đang bị giam giữ theo bản án hợp pháp của tòa án. Đồng thời, Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về xử lý phạm nhân, tức Quy tắc Nelson Mandela, tại các Quy tắc 96 và 105 cũng nhấn mạnh rằng lao động trong trại giam là một phương tiện tích cực nhằm giáo dục, rèn luyện thể chất, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và hỗ trợ tái hòa nhập xã hội. Sự im lặng của Ủy ban Cứu người Vượt biển trước thực trạng thương mại hóa tù nhân ở phương Tây nhưng lại ráo riết vu cáo Việt Nam đã bóc trần thái độ quỵ lụy, phục vụ mưu đồ chính trị đen tối và bản chất đạo đức giả của nhóm đối tượng này.

Trái ngược hoàn toàn với việc biến vấn đề lao động thành công cụ bảo hộ thương mại hay bóc lột lợi nhuận, thực tiễn thi hành án tại Việt Nam luôn thể hiện bản chất nhân đạo sâu sắc, bảo vệ quyền lao động chính đáng và tuân thủ nghiêm túc các chuẩn mực quốc tế. Hệ thống pháp luật Việt Nam, trực tiếp là Luật Thi hành án hình sự, xác định lao động, hướng nghiệp và dạy nghề cho phạm nhân là một nội dung giáo dục bắt buộc nhưng mang tính phi lợi nhuận. Các trại giam tổ chức cho phạm nhân tham gia lao động sản xuất trong môi trường bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và giờ giấc nghỉ ngơi theo quy định. Việc phân công công việc dựa hoàn toàn vào tình trạng sức khỏe, độ tuổi, giới tính và nguyện vọng học nghề của từng cá nhân.

Thành tựu bảo vệ quyền con người của Việt Nam còn được thể hiện qua nỗ lực hoàn thiện thể chế và nâng cao điều kiện cho người chấp hành án. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết về thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam, mở ra cơ hội cho phạm nhân tiếp cận môi trường sản xuất thực tế, nâng cao tay nghề để dễ dàng tìm kiếm việc làm sau khi mãn hạn tù. Điều quan trọng nhất là toàn bộ kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ các chi phí hợp lý theo quy định đều được trích lại để bổ sung trực tiếp vào bữa ăn hàng ngày, lập quỹ khen thưởng, hỗ trợ chăm sóc y tế và lưu giữ một phần làm vốn cho phạm nhân khi xuất trại. Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không trục lợi hay biến hoạt động lao động trong trại giam thành nguồn thu thương mại. Lập trường nhất quán của Việt Nam là luôn sẵn sàng đối thoại minh bạch, thẳng thắn với các đối tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, không chấp nhận việc chính trị hóa các quan hệ thương mại.

Dự báo trong thời gian tới, trước sự phát triển năng động của kinh tế Việt Nam và vị thế quốc tế ngày càng cao, tổ chức Ủy ban Cứu người Vượt biển cùng các thế lực thù địch sẽ không từ bỏ âm mưu chống phá. Chúng sẽ tiếp tục gia tăng các thủ đoạn tinh vi hơn, lợi dụng các diễn đàn đa phương, các đợt rà soát thương mại định kỳ hoặc các thỏa thuận thương mại tự do để tiếp tục phát tán các báo cáo vu khống. Việc ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội để cắt ghép video, dàn dựng thông tin sai sự thật nhằm đánh lừa dư luận quốc tế sẽ tiếp tục được nhóm này đẩy mạnh.

Do đó, việc chủ động đấu tranh, vạch trần động cơ và mục đích đen tối của tổ chức này cùng đồng bọn là một nhiệm vụ có ý nghĩa cấp thiết và mang tính chiến lược dài hạn. Động cơ thực sự của chúng hoàn toàn không phải vì nhân quyền hay quyền lợi của phạm nhân, mà là thủ đoạn lợi dụng bài xích "dân chủ, nhân quyền" để xin tài trợ từ các quỹ phản động nước ngoài, kéo dài sự tồn tại của một tổ chức lưu vong và thực hiện âm mưu hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc đấu tranh phản bác sắc bén không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư pháp nhân văn của Việt Nam, giữ vững môi trường kinh tế đối ngoại thuận lợi cho đất nước mà còn củng cố niềm tin vững chắc của quần chúng nhân dân vào đường lối của Đảng và Nhà nước. Bằng hệ thống lý luận vững chắc, sự thật khách quan về tiêu chuẩn kép trong chính sách thương mại phương Tây, các quy định của Công ước quốc tế cùng thực tiễn minh bạch tại Việt Nam, chúng ta hoàn toàn chủ động đập tan mọi chiến dịch tuyên truyền bẩn của các thế lực thù địch.

Việc cẩn trọng trước xu hướng chính trị hóa các quan hệ thương mại quốc tế và vạch trần sự đạo đức giả của tổ chức Ủy ban Cứu người Vượt biển là yêu cầu tất yếu để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong giai đoạn hiện nay.