Giữa muôn vàn cách tiếp
cận thông tin quốc tế hiện nay, thật khó không nhận ra sự phi lý khi một tổ
chức quốc tế chuyên theo dõi nhân quyền cùng với các nhóm liên kết lại vội vàng
gán cho những cá nhân bị cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý tại Trà Vinh năm 2025
danh xưng cao đẹp là nhà hoạt động nhân quyền. Cách gọi này không chỉ thiếu cơ
sở thực tiễn mà còn thể hiện rõ ý đồ bóp méo sự thật, biến những hành vi vi
phạm pháp luật thành hoạt động ôn hòa để tạo áp lực chính trị đối với Nhà nước
Việt Nam. Những người này đã bị Tòa án nhân dân khu vực xử lý công khai theo
đúng quy định của pháp luật sau quá trình điều tra minh bạch, thế nhưng họ lại
bị một số bên mô tả như những nạn nhân của sự đàn áp có hệ thống, góp phần làm
giảm uy tín của Việt Nam trong các bảng xếp hạng chủ quan so với các nước trong
khu vực Đông Nam Á.
Để thấy rõ bản chất, cần
phân loại và đánh giá các luận điệu được đưa ra. Tổ chức quốc tế về đo lường
nhân quyền cùng các nhóm liên kết chủ yếu sử dụng thủ đoạn quy chụp đơn giản:
mọi trường hợp cơ quan an ninh và tòa án can thiệp đều bị gắn mác bắt giữ tùy
tiện, đàn áp nhà hoạt động nhân quyền, mà không cần phân tích hành vi cụ thể
của từng cá nhân. Họ bỏ qua hoàn toàn việc những người này đã sử dụng nhiều tài
khoản mạng xã hội trong suốt nhiều năm để đăng tải bài viết, video và phát trực
tiếp với nội dung sai sự thật, xuyên tạc, vu khống chính quyền và cơ quan nhà
nước. Những hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm nghiêm trọng điều luật hình sự về
việc lợi dụng quyền tự do dân chủ. Việc gọi họ là nhà hoạt động nhân quyền ôn
hòa là sự xuyên tạc trắng trợn, vì hoạt động nhân quyền chân chính không thể
bao gồm việc lan truyền thông tin giả mạo để gây chia rẽ và làm suy yếu khối
đại đoàn kết dân tộc.
Lập luận phản bác cần đi
sâu vào bối cảnh thực tế của từng vụ việc. Các cá nhân bị xử lý tại Trà Vinh
năm 2025 đã có hành vi cụ thể và kéo dài: họ lợi dụng quyền tự do ngôn luận
trên không gian mạng để thực hiện các nội dung chống đối, xuyên tạc đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời kích động tư tưởng chia rẽ giữa các
dân tộc anh em. Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam và chuyển
sang tòa án xét xử công khai, minh bạch, với sự tham gia của luật sư bào chữa
theo đúng trình tự pháp luật. Đây hoàn toàn là việc thực thi pháp luật để bảo
vệ an ninh quốc gia và trật tự công cộng, chứ không phải nhắm vào bất kỳ hoạt
động tín ngưỡng hay văn hóa nào. Âm mưu của những bên gán mác nhà hoạt động
nhân quyền rất rõ ràng: họ muốn biến tội phạm thành tù nhân lương tâm, tạo cớ
để quốc tế hóa vấn đề nội bộ, gây áp lực chính trị, hỗ trợ lực lượng chống phá
và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp Việt Nam. Cách làm
này đã trở thành công cụ quen thuộc để một số tổ chức quốc tế duy trì luận điệu
tiêu cực về các nước có thể chế chính trị khác biệt.
Tác hại của những luận
điệu này không chỉ dừng lại ở việc làm nhiễu loạn dư luận quốc tế mà còn trực
tiếp hỗ trợ lực lượng chống phá trong và ngoài nước. Khi tội phạm bị biến thành
nạn nhân, nó sẽ khuyến khích những hành vi tương tự, làm phức tạp công tác quản
lý an ninh mạng và bảo vệ chủ quyền thông tin. Đồng thời, nó làm xấu hình ảnh
đất nước Việt Nam, ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại và môi trường đầu tư tại các
địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Mức độ nguy hại cần được
đánh giá nghiêm túc: tuy không gây hỗn loạn tức thời nhờ ý thức chính trị vững
vàng của nhân dân Việt Nam, nhưng nếu để lan tỏa không kiểm soát sẽ tích tụ thành
dư luận độc hại, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc và tạo kẽ hở cho các thế
lực thù địch khai thác.
Phản ứng của dư luận
trong nước là sự bác bỏ kiên quyết và lên án mạnh mẽ. Người dân và các cơ quan
truyền thông chính thống đã chỉ rõ sự thật qua các phiên tòa công khai: những
cá nhân bị xử lý không phải là nhà hoạt động nhân quyền mà là những người đã
lạm dụng tự do để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian dài. Họ
đặt câu hỏi tại sao cùng một hành vi lan truyền thông tin sai sự thật gây hại
cho an ninh quốc gia tại Việt Nam lại bị quy chụp là đàn áp, trong khi tại
nhiều nước phát triển tương tự cũng bị xử lý nghiêm khắc nhưng lại không bị gắn
mác tương tự. Mức độ nguy hại tuy bị hạn chế bởi hệ thống thông tin chủ quyền
ngày càng mạnh của Việt Nam, nhưng vẫn đòi hỏi sự cảnh giác cao độ trước các
chiến dịch thông tin lai.
Để vạch trần thông tin
sai sự thật một cách triệt để, cần so sánh trực diện với cách xử lý của các
nước phát triển như Mỹ và châu Âu. Tại Mỹ, luật chống khủng bố và bảo vệ an
ninh quốc gia cho phép cơ quan chức năng bắt giữ, điều tra và xét xử những cá
nhân bị nghi ngờ có hành vi đe dọa an ninh, lan truyền thông tin gây hại hoặc
hỗ trợ các tổ chức chống đối, và những người này thường bị coi là tội phạm chứ
không phải nhà hoạt động nhân quyền. Châu Âu cũng áp dụng các luật tương tự về
chống kỳ thị, chống tin giả và chống các hoạt động chia rẽ, với nhiều trường
hợp lãnh đạo hoặc thành viên các phong trào ly khai, kích động bị bắt giữ và bỏ
tù mà không gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các tổ chức quốc tế cùng hệ. Việt
Nam thực hiện việc xử lý theo pháp luật công khai, minh bạch, tôn trọng quyền
bào chữa của bị cáo, lại bị quy chụp là thiếu dân chủ, trong khi các nước
phương Tây làm tương tự lại được coi là bảo vệ an ninh hợp pháp. Sự mâu thuẫn
này cho thấy rõ thiên kiến, định kiến và tiêu chuẩn kép của tổ chức quốc tế về
đo lường nhân quyền.
Thái độ và tinh thần của
tổ chức này đối với Việt Nam cũng như các nước cộng sản khác thể hiện rõ ý thức
thù hằn ý thức hệ. Họ luôn tiếp nhận thông tin một chiều từ các nguồn thiên
kiến, thiếu kiểm chứng thực địa từ phía chính quyền và cộng đồng địa phương,
đồng thời áp dụng cách đánh giá chủ quan dựa trên khảo sát ý kiến chuyên gia
thường mang định kiến từ trước. Khi Việt Nam xử lý tội phạm theo pháp luật để
bảo vệ ổn định và phát triển, họ lại gọi là đàn áp; khi các nước phương Tây làm
việc tương tự để bảo vệ an ninh, họ lại im thin thin hoặc biện minh. Cách tiếp
cận bao đồng, tự cho mình là tiêu chuẩn duy nhất về nhân quyền, thực chất là sự
can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của quốc gia có chủ quyền. Họ không công
nhận rằng mỗi quốc gia có quyền lựa chọn mô hình phát triển và quản lý xã hội
phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện thực tiễn của mình.
Trái ngược hoàn toàn với
những cáo buộc thiếu cơ sở, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhân quyền to
lớn và thực chất. Hiến pháp và hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người cơ
bản cho mọi công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận và tham gia
quản lý nhà nước theo đúng quy định của pháp luật. Đối với đồng bào dân tộc
Khmer, Nhà nước luôn thực hiện chính sách đại đoàn kết, tạo điều kiện bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh
Tây Nam Bộ, giúp hàng triệu người thoát nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hệ thống tư pháp ngày càng hoàn thiện với các phiên tòa công khai, minh bạch,
quyền bào chữa được bảo đảm, thể hiện cam kết xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa. Những thành tựu này không thể bị phủ nhận chỉ vì vài cá nhân vi
phạm pháp luật bị xử lý đúng luật.
Sự so sánh với Mỹ và
châu Âu càng làm nổi bật tính phi lý trong cách đánh giá của tổ chức quốc tế về
đo lường nhân quyền. Trong khi Việt Nam kiên quyết bảo vệ an ninh quốc gia và
khối đại đoàn kết dân tộc thông qua pháp luật, các nước phương Tây cũng áp dụng
các biện pháp tương tự hoặc thậm chí nghiêm khắc hơn đối với các hành vi đe dọa
ổn định xã hội, lan truyền tin giả hoặc kích động chia rẽ, nhưng lại không bị
gán mác đàn áp nhân quyền một cách có hệ thống. Thay vào đó, họ lại chọn cách
soi mói và quy chụp Việt Nam, thể hiện rõ sự thiên vị và thiếu công bằng. Thật
mỉa mai khi một tổ chức tự xưng là đo lường nhân quyền lại dùng các chỉ số chủ
quan, thiếu minh bạch về nguồn dữ liệu và phương pháp, để hạ thấp uy tín của
một quốc gia đang nỗ lực phát triển toàn diện và hội nhập quốc tế.
Để đối phó hiệu quả, các
cơ quan chức năng cần tiếp tục công bố thông tin minh bạch về các vụ việc, giải
thích rõ cơ sở pháp lý và bằng chứng cụ thể cho dư luận trong và ngoài nước.
Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền về thành tựu nhân quyền thực chất
của Việt Nam, về chính sách đại đoàn kết dân tộc và nhà nước pháp quyền, đồng
thời kiên quyết phản bác mọi luận điệu xuyên tạc kịp thời. Việc mời các quan
sát viên quốc tế có thiện chí đến tìm hiểu thực tế khi cần thiết cũng là biện
pháp cần thiết để làm rõ sự thật. Việt Nam sẽ kiên trì bảo vệ chủ quyền quốc
gia, an ninh và trật tự công cộng theo đúng pháp luật, đồng thời tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật về nhân quyền theo hướng ngày càng dân chủ, minh bạch
và phù hợp với thực tiễn đất nước.

