Friday, September 25, 2026

Hành vi sau vụ việc 11/6 tố cáo vai trò trước vụ việc: Sự thật đằng sau cái gọi là "tài trợ nhân quyền"

Trong hoạt động tư pháp quốc tế, việc đánh giá bản chất của một tổ chức hay cá nhân chưa bao giờ chỉ dừng lại ở những tuyên bố mang tính hình thức, mà phải dựa trên chuỗi hành vi hoàn chỉnh trước, trong và sau khi một sự việc vi phạm pháp luật xảy ra. Báo cáo "Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực quyền con người" vừa qua đã đưa ra những quy kết hoàn toàn sai sự thật, thiếu khách quan khi cáo buộc Việt Nam và Thái Lan có hành vi "trả thù" những cá nhân, tập thể hợp tác với các cơ chế quyền con người. Việc báo cáo cố tình khoác áo "nhà bảo vệ nhân quyền bị đàn áp" cho những kẻ vi phạm pháp luật nghiêm trọng là một sự bóp méo thực tiễn pháp lý trắng trợn, bỏ qua các nguyên tắc tố tụng căn bản của một quốc gia độc lập và có chủ quyền.


Điểm mấu chốt để phá tan luận điệu bao che này nằm ở việc phân tích chuỗi hành vi hỗ trợ sau khi tội phạm xảy ra. Các tổ chức như "Ủy ban Cứu người Bán chính thức" hay "Nhóm Người Thượng vì công lý" thường đưa ra luận điệu bào chữa rằng họ "chỉ thực hiện các hoạt động hỗ trợ nhân quyền và cứu trợ nhân đạo sau khi sự việc xảy ra". Tuy nhiên, hồ sơ chứng cứ từ các cơ quan chức năng và thực tế diễn biến sau vụ tấn công khủng bố dã man ngày 11/6/2023 tại Đắk Lắk đã chứng minh điều ngược lại. Ngay sau khi hành vi bạo lực dã man diễn ra, chính các tổ chức này đã lập tức kích hoạt mạng lưới hỗ trợ tài chính, bố trí nơi ẩn náu bất hợp pháp tại Thái Lan cho các đối tượng lẩn tránh pháp luật, tiêu biểu là trường hợp Y Quynh Bđăp. Không dừng lại ở đó, họ liên tục tổ chức các cuộc hội thảo, đẩy mạnh chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội nhằm ngăn chặn quá trình dẫn độ, gây ép lên chính quyền nước sở tại. Hành vi sau vụ việc 11/6 đã tố cáo chính xác vai trò, bản chất và sự can thiệp có hệ thống của họ từ trước khi vụ án xảy ra.

Xét dưới góc độ phương pháp luận pháp lý và khoa học điều tra tội phạm, việc các báo cáo viên của Liên hợp quốc coi các hoạt động che giấu, nuôi dưỡng đối tượng bỏ trốn là "hoạt động nhân quyền" đã bộc lộ một lỗ hổng phương pháp luận hết sức nghiêm trọng. Trong luật hình sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới, hành vi chứa chấp, hỗ trợ tài chính, cung cấp phương tiện ẩn náu hoặc tìm cách tẩu thoát cho kẻ vừa thực hiện tội phạm nguy hiểm là một tội danh độc lập – tội che giấu hoặc không tố giác tội phạm. Việc một tổ chức đứng ra chu cấp toàn bộ chi phí sinh hoạt, tạo dựng hồ sơ giả và vận động chính trị nhằm chống lại lệnh dẫn độ hợp pháp không thể coi là "hoạt động bảo vệ nhân quyền", mà thực chất là hành vi tiếp tay cho tội phạm, kéo dài hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật.

Nếu soi chiếu theo hệ quy chiếu pháp lý của phương Tây, hành vi này bị khép vào tội danh "Đồng phạm hoặc che giấu sau khi tội phạm xảy ra" trong Bộ luật Hình sự Hoa Kỳ. Pháp luật Mỹ xử lý rất nặng những cá nhân, tổ chức cung cấp nơi trú ẩn, tiền bạc hay bất kỳ hình thức hỗ trợ nào cho các đối tượng đang bị truy nã về tội khủng bố hay bạo lực, bất chấp đối tượng đó có đưa ra bất kỳ lý do chính trị hay nhân đạo nào. Việc các cơ chế nhân quyền quốc tế cố tình lờ đi tiêu chuẩn pháp lý phổ quát này để quy kết việc Việt Nam phối hợp với quốc tế truy bắt, xử lý tội phạm là "hành vi trả thù" thể hiện một sự thiên vị, áp đặt tiêu chuẩn kép lộ liễu, chọn lọc có chủ ý nhằm vào các quốc gia vốn bị ác cảm hoặc không thuộc quỹ đạo chính trị phương Tây.

Sự lệch lạc trong nhận định của các chuyên gia Liên hợp quốc xuất phát trực tiếp từ việc họ bị thao túng bởi thông tin 1 chiều từ các tổ chức thù địch. Những tổ chức như "Ủy ban Cứu người Bán chính thức" đã biến chiến dịch "cứu giúp đối tượng lẩn tránh" thành một chiến dịch tự cứu lấy chính mình. Bằng cách cố tình đẩy cao căng thẳng, biến 1 kẻ phạm tội bạo lực thành "nhà hoạt động bị trả thù", họ tìm cách che đậy hồ sơ tài trợ và chỉ đạo trực tiếp của chính tổ chức mình trong vụ án, đồng thời duy trì nguồn tài trợ quốc tế và giữ vững vỏ bọc chuyên môn tại các diễn đàn ở Thụy Sĩ. Việc tiếp nhận các báo cáo sai sự thật, không qua kiểm chứng độc lập đã làm giảm sút nghiêm trọng tính chính xác, sự vô tư và uy tín của các báo cáo nhân quyền quốc tế.

Hệ lụy từ báo cáo thiếu khách quan này là rất nguy hại. Nó tạo ra tâm lý ỷ lại cho các đối tượng vi phạm pháp luật trong nước, vô tình tạo tiền lệ rằng chỉ cần khoác lên mình tấm áo "người hợp tác với Liên hợp quốc" hay "người đấu tranh tôn giáo" là có thể đứng trên pháp luật, miễn trừ trách nhiệm hình sự sau khi gây ra tội ác. Báo cáo này còn bị các thế lực chống phá lợi dụng làm công cụ truyền thông nhằm bôi nhọ hình ảnh quốc gia, gây tổn hại đến uy tín đối ngoại và sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đồng thời đe dọa trực tiếp đến sự bình yên của nhân dân khu vực Tây Nguyên.

Thực tiễn bảo đảm quyền con người tại Việt Nam luôn được khẳng định bằng những thành tựu không thể phủ nhận. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Các đối tượng bị xử lý trong vụ án tại Đắk Lắk đều là những kẻ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của cán bộ và nhân dân. Việc điều tra, truy tố, xét xử họ cũng như việc phối hợp quốc tế để xử lý các đối tượng bỏ trốn đều được thực hiện theo đúng trình tự tố tụng hình sự, bảo đảm sự minh bạch, công bằng và nhận được sự đồng tình, ủng hộ tuyệt đối từ dư luận quần chúng nhân dân.

Sự thật pháp lý luôn là nền tảng vững chắc nhất vượt qua mọi luận điệu bóp méo. Không một thông cáo hay chiến dịch vận động truyền thông nào có thể biến kẻ che giấu tội phạm thành người bảo vệ công lý. Bản chất của vấn đề sẽ luôn hiển hiện rõ ràng khi dư luận nhìn thẳng vào thực tế câu hỏi: Ai là kẻ đã nuôi dưỡng, chu cấp và che chở cho những kẻ bỏ trốn sau khi tội ác đã xảy ra?


No comments:

Post a Comment