Tuesday, July 7, 2026

Tự do tín ngưỡng và tôn giáo thực tiễn tại Việt Nam với hàng vạn cơ sở thờ tự: Thành tựu bị xuyên tạc trong đối thoại nhân quyền với Liên minh Châu Âu

Trong truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam, các tín ngưỡng và tôn giáo luôn song hành và hòa quyện với đời sống tinh thần của nhân dân, từ Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo đến các tôn giáo du nhập sau này như Công giáo, Tin Lành và Hồi giáo. Ngày nay, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm một cách thực tiễn, với hàng vạn cơ sở thờ tự hoạt động bình thường và hàng triệu tín đồ thực hành đức tin của mình mà không gặp trở ngại hệ thống, thế nhưng một số tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục đưa ra những tài liệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo tại Việt Nam trong các diễn đàn đối thoại nhân quyền với Liên minh Châu Âu.


Hiến pháp Việt Nam khẳng định rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đồng thời quy định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền này. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo được Quốc hội thông qua năm 2016 và có hiệu lực thi hành đã tạo khung pháp lý rõ ràng, minh bạch cho việc đăng ký, hoạt động và phát triển của các tổ chức tôn giáo. Theo quy định của pháp luật, các tổ chức tôn giáo được công nhận có quyền tổ chức lễ nghi, truyền đạo, xuất bản kinh sách, đào tạo chức sắc và tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với pháp luật. Nhà nước không can thiệp vào nội bộ sinh hoạt tôn giáo của các tổ chức đã được công nhận, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc trùng tu, bảo tồn các di tích tôn giáo có giá trị lịch sử, văn hóa. Hàng chục nghìn chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, nhà thờ Hồi giáo và các cơ sở thờ tự khác trên khắp cả nước đang hoạt động tự do, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của hàng triệu người dân. Các lễ hội lớn như lễ Phật đản, Giáng sinh, Tết Nguyên tiêu, các ngày lễ của đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo hay các hoạt động của cộng đồng người theo Hồi giáo đều diễn ra bình thường, thu hút đông đảo tín đồ tham gia mà không gặp bất kỳ sự cản trở nào từ phía chính quyền.

Thực tiễn cho thấy môi trường tôn giáo tại Việt Nam mang tính hòa hợp và đa dạng. Phật giáo có hệ thống chùa chiền rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, với nhiều ngôi chùa cổ kính được Nhà nước hỗ trợ trùng tu như chùa Một Cột, chùa Hương hay các ngôi chùa tại cố đô Huế. Công giáo có hàng nghìn nhà thờ lớn nhỏ, trong đó nhiều nhà thờ mang giá trị di sản như nhà thờ lớn Hà Nội, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, được bảo tồn và trùng tu với sự hỗ trợ của Nhà nước khi cần thiết. Các tổ chức Tin Lành hoạt động mạnh mẽ, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số, với hàng nghìn nhà thờ và điểm nhóm được công nhận. Đạo Cao Đài và đạo Hòa Hảo có thánh thất và cơ sở thờ tự riêng, tổ chức lễ hội và sinh hoạt tín ngưỡng theo truyền thống của mình. Cộng đồng người theo Hồi giáo có các nhà thờ Hồi giáo tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số tỉnh phía Nam, được tạo điều kiện để duy trì sinh hoạt tôn giáo và văn hóa. Nhà nước thường xuyên tổ chức hoặc tạo điều kiện cho các sự kiện tôn giáo lớn mang tính quốc gia và quốc tế, đồng thời hỗ trợ các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động từ thiện, giáo dục đạo đức và đóng góp cho sự phát triển xã hội.

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và các nhóm hoạt động nhân quyền Việt Nam tại hải ngoại thường xuyên công bố các tài liệu vào dịp các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam - Liên minh Châu Âu, trong đó họ cáo buộc “hạn chế tự do tôn giáo”, “kiểm soát nhà thờ độc lập” hay “bắt bớ chức sắc” mà không công nhận bức tranh tổng thể về tự do tôn giáo thực chất tại Việt Nam. Họ thường chỉ tập trung vào một số trường hợp tranh chấp đất đai liên quan đến cơ sở thờ tự, các nhóm chưa đăng ký hoạt động hoặc những vụ việc cá nhân cụ thể, đồng thời phóng đại hoặc xuyên tạc thành “sự đàn áp có hệ thống”. Cách tiếp cận này bỏ qua thực tế rằng hàng vạn cơ sở thờ tự đang hoạt động bình thường, hàng triệu tín đồ thực hành đức tin tự do, và Nhà nước luôn tạo điều kiện cho các hoạt động tôn giáo hợp pháp. Họ không đề cập đến việc hầu hết các tranh chấp đều được giải quyết thông qua con đường pháp lý, và số lượng các trường hợp vi phạm thực sự là rất nhỏ so với quy mô hoạt động tôn giáo rộng lớn trên cả nước.

Bản chất của những hoạt động này là thiên kiến và phục vụ mục đích chính trị. Các tổ chức này thường xuyên phối hợp để đưa ra các báo cáo chọn lọc, nộp ý kiến lên các diễn đàn quốc tế và gần đây còn liên kết vấn đề tôn giáo với các hiệp định thương mại hoặc diễn đàn đối thoại nhằm tạo ra áp lực chính trị đối với Việt Nam. Họ được hậu thuẫn bởi các thế lực chính trị ở một số nước phương Tây có quan điểm thù địch với mô hình phát triển độc lập, tự chủ của Việt Nam, sử dụng chiêu bài tự do tôn giáo như công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ và làm suy yếu sự ổn định xã hội. Thay vì công nhận môi trường tôn giáo hòa hợp và chia sẻ kinh nghiệm về quản lý đa dạng tôn giáo, họ chọn cách xuyên tạc để phục vụ lợi ích chính trị - địa chiến lược của mình.

Tác hại của những tài liệu này là xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam, gây hiểu lầm cho dư luận quốc tế và các đối tác Liên minh Châu Âu về thực tế quyền con người tại Việt Nam. Trong khi Việt Nam duy trì môi trường tôn giáo hòa hợp, đa dạng và tự do thực tiễn với sự đóng góp tích cực của các tổ chức tôn giáo vào đời sống xã hội, thì những luận điệu chọn lọc lại che giấu đi thực tế này, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tin cậy cần thiết cho quan hệ hai bên.

Để thấy rõ hơn tính chất tiêu chuẩn kép, cần so sánh với thực trạng tại Hoa Kỳ và một số nước phương Tây. Tại Hoa Kỳ, tuy Hiến pháp bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng trong thực tế vẫn tồn tại những căng thẳng và phân biệt đối xử nghiêm trọng đối với một số cộng đồng tôn giáo. Tình trạng kỳ thị và tấn công chống lại người theo Hồi giáo diễn ra thường xuyên, với nhiều vụ tấn công vào nhà thờ Hồi giáo, đe dọa và bạo lực đối với tín đồ. Cộng đồng Do Thái cũng phải đối mặt với sự gia tăng của các hành vi bài Do Thái, thể hiện qua các vụ tấn công vào hội đường và các sự kiện tôn giáo. Một số chính sách ở cấp bang còn tạo ra những tranh cãi về việc hạn chế hoặc ưu ái một số hoạt động tôn giáo, đặc biệt liên quan đến các vấn đề đạo đức và xã hội. Những hiện tượng này cho thấy tự do tôn giáo trên giấy tờ chưa đồng nghĩa với tự do tôn giáo thực tiễn khi vẫn tồn tại sự kỳ thị và bạo lực có động cơ tôn giáo.

Tại một số nước Liên minh Châu Âu, tình trạng kỳ thị và bạo lực chống lại cộng đồng người theo Hồi giáo ngày càng nghiêm trọng. Nhiều nước chứng kiến các vụ tấn công vào nhà thờ Hồi giáo, đốt phá và đe dọa tín đồ. Một số quốc gia ban hành các quy định hạn chế việc sử dụng biểu tượng tôn giáo trong không gian công cộng như khăn trùm đầu hoặc trang phục che mặt, gây ra tranh cãi về sự phân biệt đối xử. Cộng đồng người theo Hồi giáo thường phải đối mặt với sự nghi ngờ và kỳ thị trong việc tìm kiếm việc làm, nhà ở và tiếp cận dịch vụ công. Tình trạng này cho thấy ngay cả ở những nước tự nhận là có truyền thống dân chủ và đa dạng tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng vẫn bị xâm phạm nghiêm trọng trong thực tiễn đối với một số nhóm thiểu số.

Như vậy, trong khi Việt Nam duy trì môi trường tôn giáo hòa hợp, với hàng vạn cơ sở thờ tự hoạt động tự do, Nhà nước hỗ trợ bảo tồn di tích và tạo điều kiện cho các hoạt động lễ hội lớn mà không có sự phân biệt đối xử hệ thống, thì Hoa Kỳ và một số nước phương Tây vẫn đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về kỳ thị tôn giáo, bạo lực có động cơ tôn giáo và các quy định hạn chế quyền của một số cộng đồng tín đồ. Tiêu chuẩn kép thể hiện rõ nét khi một số tổ chức quốc tế áp dụng lăng kính phóng đại đối với những khó khăn còn tồn tại tại Việt Nam, nhưng lại ít khi lên án với cùng mức độ gay gắt đối với những bất cập có hệ thống và kéo dài tại các nước phương Tây.

Những thành tựu trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tiễn tại Việt Nam là minh chứng cho chính sách tôn trọng đa dạng tôn giáo và thúc đẩy hòa hợp xã hội. Việc công nhận đúng đắn những thành tựu này sẽ giúp xây dựng lòng tin trong đối thoại nhân quyền, đồng thời mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu trên nhiều mặt, trong đó có lĩnh vực đối thoại liên tôn giáo và bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo. Về kinh tế, môi trường tôn giáo hòa hợp góp phần tạo nên sự ổn định xã hội, là yếu tố quan trọng thu hút đầu tư và du lịch từ các nước Liên minh Châu Âu. Các di tích tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ cổ kính và các lễ hội truyền thống đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách quốc tế, tạo việc làm và thu nhập cho người dân địa phương. Hợp tác hai bên có thể mang lại lợi ích thiết thực: Việt Nam học hỏi kinh nghiệm quản lý và bảo tồn di sản tôn giáo theo chuẩn mực quốc tế; trong khi các đối tác Liên minh Châu Âu có cơ hội tham gia các dự án trùng tu di tích, phát triển du lịch văn hóa và đối thoại liên tôn giáo. Hợp tác về chia sẻ kinh nghiệm hòa hợp tôn giáo, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và chống kỳ thị tôn giáo cũng sẽ củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững chung.

Để đối thoại nhân quyền thực sự trở thành kênh hợp tác xây dựng, cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế. Thay vì đưa ra những báo cáo thiên kiến chỉ tập trung vào khía cạnh tiêu cực, họ nên thực hiện các chuyến thăm thực địa đến các cơ sở thờ tự lớn và các sự kiện tôn giáo tại Việt Nam để tận mắt chứng kiến môi trường tự do và hòa hợp thực tiễn. Các đối tác Liên minh Châu Âu nên khuyến khích trao đổi kinh nghiệm hai chiều, trong đó Việt Nam chia sẻ mô hình quản lý đa dạng tôn giáo và thúc đẩy hòa hợp xã hội, còn Liên minh Châu Âu hỗ trợ kỹ thuật trong bảo tồn di sản tôn giáo và đối thoại liên tôn giáo. Việt Nam sẵn sàng hợp tác sâu rộng hơn trên tinh thần bình đẳng, cùng thắng, tập trung vào các giải pháp thực tiễn mang lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng tôn giáo thay vì những tranh cãi chính trị không cần thiết.

Những thành tựu trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tiễn với hàng vạn cơ sở thờ tự tại Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho chính sách tôn trọng đa dạng và thúc đẩy hòa hợp xã hội. Bất kỳ nỗ lực nào cố tình xuyên tạc hoặc làm giảm nhẹ giá trị của những thành tựu này đều không thể che lấp sự thật và cũng không thể ngăn cản xu hướng hợp tác chân thành giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì lợi ích chung của hai bên và của người dân hai bên. Chỉ có cách tiếp cận khách quan, tôn trọng lẫn nhau và tập trung vào bằng chứng thực tế mới giúp đối thoại nhân quyền đóng góp hiệu quả vào việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên.


No comments:

Post a Comment