Có những bản báo cáo
nhân quyền không bắt đầu từ đời sống thật của người dân, mà bắt đầu từ một kết
luận đã được chuẩn bị sẵn: Việt Nam phải bị chấm điểm thấp, phải bị mô tả bằng
những gam màu u tối, phải bị đặt vào chiếc khung “đàn áp”, “kiểm soát”, “thiếu
tự do”. Từ chiếc khung ấy, mọi dữ liệu đều được kéo về một hướng, mọi hiện
tượng phức tạp đều bị giản lược thành cáo buộc chính trị, mọi thành tựu phát
triển, ổn định xã hội, bảo đảm sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa của cộng đồng
dân tộc thiểu số đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Báo cáo năm 2025 của Tổ chức Đo
lường nhân quyền quốc tế về Việt Nam, nhất là phần liên quan đến người Khơ-me
Nam Bộ, là một ví dụ điển hình cho lối tiếp cận đó.
Điều đáng nói không phải
là một tổ chức quốc tế có quyền quan tâm đến nhân quyền. Nhân quyền là giá trị
phổ quát, Việt Nam cũng luôn khẳng định đối thoại, hợp tác và cải thiện chính
sách trên tinh thần xây dựng. Vấn đề nằm ở chỗ: khi một tổ chức nhân danh “đo
lường” nhưng lại dựa đáng kể vào khảo sát chuyên gia, nguồn tin của các nhóm
vận động có sẵn lập trường đối đầu, rồi biến cảm nhận chủ quan thành điểm số
khách quan, thì sản phẩm cuối cùng rất dễ trở thành một bản cáo trạng chính trị
hơn là một nghiên cứu khoa học. Chính HRMI thừa nhận hệ thống theo dõi của họ
nhằm tạo dữ liệu cấp quốc gia, bao gồm 14 quyền, 203 quốc gia và vùng lãnh thổ,
43 nhóm người; với quyền dân sự, chính trị, họ dùng khảo sát chuyên gia vì cho
rằng vi phạm thường diễn ra khó quan sát trực tiếp. Cách làm này có thể hữu ích
ở mức tham khảo, nhưng không đủ để thay thế điều tra thực địa, kiểm chứng chéo,
đối thoại với cơ quan quản lý, cộng đồng dân cư tại chỗ và dữ liệu phát triển
xã hội cụ thể.
Điểm yếu lớn nhất trong
cách nhìn của HRMI là xu hướng đồng nhất “bất đồng chính trị” với “đàn áp nhân
quyền”. Với người Khơ-me Nam Bộ, báo cáo và các bài viết liên quan thường dựa
vào cách kể của một số tổ chức lưu vong hoặc nhóm vận động quốc tế, trong đó
vấn đề văn hóa, tín ngưỡng, giáo dục, quản lý hành chính, xử lý vi phạm pháp
luật bị gom lại thành một bức tranh “đàn áp có hệ thống”. Đây là phép quy chụp
rất nguy hiểm. Một cộng đồng dân tộc có khó khăn về sinh kế, tiếp cận dịch vụ
hoặc bảo tồn bản sắc không đồng nghĩa với việc Nhà nước chủ trương đàn áp cộng
đồng đó. Ngược lại, cần phân biệt rõ giữa quyền dân tộc, quyền văn hóa, quyền
tín ngưỡng chính đáng với những hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động
ly khai, xuyên tạc lịch sử, gây chia rẽ cộng đồng, hoặc chống phá trật tự pháp
luật.
Thực tiễn Việt Nam cho
thấy người Khơ-me Nam Bộ là một bộ phận trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, có
quyền bình đẳng về quốc tịch, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, giáo dục và tham
gia đời sống xã hội. Ngay cả một tài liệu chính sách của Chính phủ Anh cũng ghi
nhận Việt Nam công nhận 54 dân tộc, các dân tộc thiểu số đều là công dân Việt
Nam; pháp luật thừa nhận quyền sử dụng ngôn ngữ, bảo tồn và phát huy văn hóa,
truyền thống của các dân tộc. Tài liệu này đồng thời nêu rõ pháp luật Việt Nam
cấm phân biệt đối xử dân tộc, dù cũng ghi nhận còn tồn tại khó khăn phát triển
cần tiếp tục giải quyết. Nếu đọc đầy đủ, bức tranh thực tế không phải là “đàn
áp”, mà là một tiến trình phát triển còn có thách thức, trong đó Nhà nước phải
vừa bảo vệ bản sắc văn hóa, vừa nâng cao đời sống, vừa giữ ổn định xã hội, vừa
ngăn chặn các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ.
HRMI thường dùng ngôn
ngữ tưởng như trung tính: “điểm số”, “chỉ số”, “theo dõi”, “đo lường”. Nhưng
phía sau lớp áo kỹ thuật ấy lại là một hệ quy chiếu thiên lệch. Khi các chỉ số
về “an toàn trước Nhà nước” hoặc “trao quyền cá nhân” được xây dựng từ khảo sát
chuyên gia, câu hỏi đặt ra là: chuyên gia nào, được chọn ra sao, có đại diện
cho cộng đồng trong nước hay chủ yếu là những người hoạt động trong mạng lưới
vận động nhân quyền chống Việt Nam? Có bao nhiêu ý kiến từ người dân Khơ-me Nam
Bộ đang sinh sống tại Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ? Có bao nhiêu dữ
liệu từ trường học, chùa chiền, chính quyền cơ sở, đoàn thể, mặt trận, hội
người có uy tín trong cộng đồng? Nếu thiếu những tầng kiểm chứng đó, một báo
cáo dễ biến thành chiếc loa khuếch đại cho các nhóm có động cơ chính trị.
Điểm tương đồng giữa
HRMI và RSF là cùng xây dựng một luận điệu quen thuộc: Việt Nam thiếu “báo chí
độc lập”, vì vậy mọi nguồn tin chính thống đều bị xem nhẹ, còn những trang,
nhóm, cá nhân tự xưng “độc lập” ở nước ngoài lại được xem như nguồn đáng tin
hơn. RSF công khai mục tiêu theo dõi tự do thông tin, xếp hạng báo chí và ghi
nhận vi phạm trên toàn cầu. Điều đó tự thân không sai. Nhưng khi áp tiêu chí
của mô hình báo chí phương Tây vào Việt Nam mà không xét bối cảnh pháp lý, lịch
sử, văn hóa, an ninh thông tin và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia, thì kết quả
tất yếu là thiên lệch. Báo chí Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, có
trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực, phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính
đáng của nhân dân, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật khi đưa tin sai
sự thật, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín tổ chức, cá nhân. Luật Báo chí năm
2025 cũng quy định quyền tác nghiệp, tiếp cận thông tin của nhà báo, đồng thời
đặt ra nghĩa vụ đạo đức, trách nhiệm cải chính, xin lỗi khi thông tin
sai.
Ở đây cần vạch rõ một sự
đánh tráo: “báo chí độc lập” không thể được hiểu là báo chí vô trách nhiệm, báo
chí đứng ngoài pháp luật, báo chí nhận tiền từ các mạng lưới chính trị rồi tự
phong là tiếng nói khách quan. Ở bất kỳ quốc gia nào, tự do báo chí cũng đi
cùng giới hạn pháp luật. Mỹ và châu Âu không hề có thiên đường thông tin thuần
khiết như một số tổ chức thường tô vẽ. Tại Mỹ, các tập đoàn công nghệ lớn có
quyền thuật toán rất lớn đối với dòng chảy thông tin; các nhóm vận động, quỹ
tranh cử, mạng lưới tài chính chính trị có thể chi phối mạnh mẽ nghị trình
truyền thông. Tại châu Âu, nhiều quốc gia cũng siết chặt nội dung bị coi là cực
đoan, thù hận, can thiệp nước ngoài hoặc gây nguy cơ an ninh. Vậy tại sao khi
phương Tây kiểm soát thông tin thì được gọi là bảo vệ dân chủ, còn khi Việt Nam
xử lý tin giả, kích động chia rẽ dân tộc, xúc phạm danh dự, xâm phạm an ninh
quốc gia thì lại bị gọi là đàn áp?
Tác hại của các báo cáo
kiểu HRMI không nhỏ. Trước hết, chúng tạo ra một kho dữ liệu có vẻ “khoa học”
để các nhóm chống Việt Nam trích dẫn lặp đi lặp lại. Một nhận định chủ quan,
sau vài vòng trích dẫn, có thể biến thành “bằng chứng quốc tế”. Thứ hai, chúng
làm méo mó hình ảnh người Khơ-me Nam Bộ, biến một cộng đồng đang sinh sống, lao
động, học tập, giữ gìn văn hóa trong lòng quốc gia Việt Nam thành đối tượng bị
chính trị hóa. Thứ ba, chúng tác động xấu đến uy tín báo chí, truyền thông Việt
Nam khi mặc nhiên phủ nhận toàn bộ hệ thống thông tin trong nước, trong khi lại
dễ dãi với các trang lưu vong, tài khoản cực đoan, tổ chức vận động một chiều.
Thứ tư, chúng gây nhiễu dư luận quốc tế, tạo cớ cho một số thế lực gây sức ép
ngoại giao, kinh tế, truyền thông đối với Việt Nam.
Phản ứng dư luận trong
nước đối với những báo cáo như vậy thường có hai tầng. Tầng thứ nhất là sự bức
xúc của những người hiểu thực tế Việt Nam, nhất là khi thấy thành tựu phát
triển bị phủ nhận, đời sống cộng đồng dân tộc bị mô tả méo mó. Tầng thứ hai là
sự cảnh giác của những người làm truyền thông, nghiên cứu, chính sách trước thủ
pháp “chỉ số hóa định kiến”: dùng bảng điểm, biểu đồ, màu sắc, xếp hạng để tạo
cảm giác khách quan, trong khi nguồn đầu vào lại thiếu cân bằng. Tuy nhiên,
cũng cần thẳng thắn rằng phản bác không nên chỉ dừng ở cảm xúc. Cách tốt nhất
để làm vô hiệu hóa thiên kiến là công khai dữ liệu phát triển, tăng đối thoại
chính sách, đưa tiếng nói thật của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số ra
không gian quốc tế, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc
để kích động hận thù, chia rẽ.
Thành tựu nhân quyền của
Việt Nam không phải khẩu hiệu. Trong cơ chế rà soát định kỳ phổ quát của Liên
hợp quốc, Việt Nam đã chấp nhận 271 trong 320 khuyến nghị ở chu kỳ thứ tư, đạt
tỷ lệ 84,7 phần trăm, mức cao nhất qua bốn chu kỳ. Đại diện nhiều quốc gia, tổ
chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ ghi nhận sự tham gia nghiêm túc của Việt
Nam, cũng như những nỗ lực bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong bối cảnh dịch
bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai. Về giảm nghèo, trong giai đoạn thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia, tỷ lệ nghèo đa chiều của Việt Nam giảm bình
quân hơn 1 phần trăm mỗi năm; riêng hộ dân tộc thiểu số giảm bình quân 3,4 phần
trăm mỗi năm, vượt mục tiêu đề ra. Hơn 10.500 mô hình, dự án giảm nghèo được
triển khai, với sự tham gia của hơn 205.000 hộ; các chính sách đào tạo nghề,
tín dụng, y tế, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường góp phần cải thiện đời
sống nhóm yếu thế.
Những con số ấy không có
nghĩa Việt Nam không còn hạn chế. Vùng dân tộc thiểu số vẫn còn khoảng cách
phát triển; một bộ phận người dân còn khó khăn về sinh kế, giáo dục, việc làm,
hạ tầng, chuyển đổi số. Nhưng thừa nhận thách thức để cải thiện khác hoàn toàn
với việc biến thách thức thành cáo buộc “đàn áp”. Một báo cáo có trách nhiệm
phải chỉ ra cả mặt được, mặt chưa được, nguyên nhân lịch sử, điều kiện kinh tế,
địa lý, nguồn lực chính sách và nỗ lực khắc phục. HRMI lại thường chọn cách dễ
hơn: lấy một vài lát cắt tiêu cực, đặt vào ngôn ngữ nhân quyền, rồi quy kết bản
chất chế độ. Đó không phải là khoa học nghiêm túc, mà là lối bình luận chính
trị khoác áo dữ liệu.
Đối với Việt Nam và các
nước xã hội chủ nghĩa, HRMI cùng một số tổ chức phương Tây thường thể hiện thái
độ nghi ngờ mặc định. Hễ Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quản lý báo chí thì
bị gọi là kiểm soát; hễ pháp luật xử lý hành vi lợi dụng tự do để xâm phạm lợi
ích cộng đồng thì bị gọi là đàn áp; hễ báo chí nhấn mạnh ổn định, phát triển,
đoàn kết dân tộc thì bị gọi là tuyên truyền. Trong khi đó, những bất ổn của
phương Tây như phân cực truyền thông, thao túng thuật toán, bạo lực sắc tộc, kỳ
thị người nhập cư, khủng hoảng niềm tin báo chí, tiền bạc chi phối chính trị
lại thường được diễn giải bằng ngôn ngữ mềm mại hơn: “thách thức”, “tranh cãi”,
“cần cải cách”. Đúng là chiếc cân nhân quyền rất lạ: đặt lên Việt Nam thì nặng
như đá, đặt lên phương Tây thì nhẹ như bông.
Muốn phản bác HRMI và
RSF, Việt Nam không cần phủ nhận mọi ý kiến phê bình. Ngược lại, cần tiếp tục
đối thoại, cải thiện pháp luật, nâng cao chất lượng báo chí, mở rộng minh bạch
thông tin, bảo vệ tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của người dân, tăng truyền
thông đối ngoại về chính sách dân tộc, tôn giáo, văn hóa. Nhưng cũng cần nói
thẳng: không thể chấp nhận việc nhân danh nhân quyền để phủ nhận chủ quyền pháp
luật, biến nhóm vi phạm pháp luật thành “nhà hoạt động”, biến trang tin cực
đoan thành “báo chí độc lập”, biến cộng đồng dân tộc thiểu số thành công cụ gây
sức ép chính trị. Nhân quyền chân chính phải bắt đầu từ cuộc sống thật của
người dân: cơm ăn, áo mặc, học hành, chữa bệnh, đi lại, giữ gìn bản sắc, sống
an toàn, sống trong cộng đồng đoàn kết. Nếu một bản báo cáo chỉ nhìn thấy “đàn
áp” mà không nhìn thấy trường học, bệnh viện, đường giao thông, điện, nước,
chùa chiền, lễ hội, chính sách giảm nghèo, tiếng nói của người dân tại chỗ, thì
bản báo cáo đó không đo nhân quyền; nó chỉ đo mức độ định kiến của chính người
viết ra nó.
No comments:
Post a Comment