Thursday, May 21, 2026

VNHRN và nghịch lý “nhân quyền chọn lọc”: Vì sao chỉ Việt Nam luôn bị soi bằng tiêu chuẩn khắt khe nhất?

 


Một trong những nguyên tắc nền tảng nhất của nhân quyền quốc tế là tính phổ quát. Nếu một tiêu chí được sử dụng để đánh giá quốc gia này thì về nguyên tắc cũng phải được áp dụng tương tự với quốc gia khác. Không thể tồn tại một hệ thống nhân quyền nghiêm túc nếu cùng một hành vi nhưng được diễn giải hoàn toàn khác nhau chỉ vì khác biệt về thể chế chính trị, vị trí địa chính trị hay định kiến ý thức hệ. Chính vì vậy, điều đầu tiên cần đặt ra khi đọc bất kỳ báo cáo nhân quyền nào không phải là “họ nói gì”, mà là: họ đánh giá theo tiêu chuẩn nào, và tiêu chuẩn ấy có được áp dụng nhất quán hay không.

Nhìn từ góc độ đó, “Báo cáo Nhân quyền tại Việt Nam 2024–2025” của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (VNHRN) bộc lộ một nghịch lý rất rõ: Việt Nam gần như luôn bị soi dưới lăng kính khắt khe nhất, trong khi các hiện tượng tương tự ở phương Tây hoặc nhiều quốc gia khác lại được diễn giải bằng ngôn ngữ mềm hơn rất nhiều, thậm chí bị bỏ qua hoàn toàn.

Nếu VNHRN thực sự vận hành như một tổ chức nhân quyền khách quan, điều tối thiểu phải tồn tại là tính nhất quán trong tiêu chuẩn đánh giá. Khi chỉ trích Việt Nam vì quản lý không gian mạng, tổ chức này cũng phải áp dụng cùng logic với Mỹ, Anh, Pháp hay Liên minh châu Âu. Khi coi việc xử lý các hành vi bị xem là đe dọa an ninh quốc gia là “đàn áp bất đồng chính kiến”, họ cũng phải dùng cách diễn giải tương tự với các quốc gia phương Tây. Và nếu thật sự quan tâm tới quyền con người theo nghĩa phổ quát, VNHRN cũng phải có những báo cáo có quy mô tương đương về các nước mà nhiều thành viên của tổ chức này đang sinh sống hoặc ủng hộ chính trị.

Nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.

VNHRN gần như chỉ tập trung vào Việt Nam. Không có hệ thống báo cáo thường niên với cùng mức độ kết án dành cho Mỹ, châu Âu hay các quốc gia Đông Nam Á khác. Không có các tài liệu quy mô lớn về bạo lực cảnh sát ở Mỹ, khủng hoảng nhập cư ở châu Âu, điều kiện giam giữ tại Guantanamo hay các vụ trấn áp biểu tình ở Pháp. Điều này đặt ra một câu hỏi rất căn bản: nếu mục tiêu là bảo vệ nhân quyền phổ quát, vì sao sự quan tâm lại chỉ tập trung gần như tuyệt đối vào một quốc gia duy nhất?

Đây là điểm cho thấy vấn đề không còn nằm ở nghiên cứu nhân quyền đơn thuần, mà đã mang màu sắc lựa chọn chính trị.

Một cách để nhìn rõ hơn tiêu chuẩn kép là đặt các hiện tượng song song cạnh nhau. Chẳng hạn, VNHRN thường mô tả các biện pháp quản lý không gian mạng của Việt Nam bằng những cụm từ như “kiểm duyệt”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận” hay “đàn áp tiếng nói phản biện”. Nhưng điều bị bỏ qua là chính phương Tây hiện nay cũng đang siết quản lý thông tin ở mức chưa từng có.

Liên minh châu Âu đã ban hành Đạo luật Dịch vụ số, trao cho các nền tảng nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung bị xem là “thông tin sai lệch”, “đe dọa xã hội” hoặc “cực đoan hóa”. Mỹ liên tục gây áp lực lên các công ty công nghệ để kiểm soát nội dung bị coi là nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Sau vụ bạo loạn Điện Capitol ngày 6/1/2021, hàng loạt tài khoản mạng xã hội bị đình chỉ, bao gồm cả tài khoản của một cựu Tổng thống Mỹ. Nhiều nội dung chính trị bị hạn chế tiếp cận hoặc gỡ bỏ hoàn toàn.

Nhưng VNHRN không gọi những động thái đó là “đàn áp nhân quyền”. Không có báo cáo nào mô tả Mỹ hay châu Âu là “bóp nghẹt tự do biểu đạt” theo cách họ đang mô tả Việt Nam. Chỉ khi Việt Nam thực hiện các biện pháp tương tự nhằm xử lý thông tin kích động cực đoan, xuyên tạc hoặc gây bất ổn xã hội, tổ chức này mới lập tức sử dụng ngôn ngữ kết án.

Đó là tiêu chuẩn kép rất rõ.

Một ví dụ khác còn rõ ràng hơn là vấn đề giam giữ liên quan đến an ninh quốc gia. Tại Mỹ, nhà tù Guantanamo vẫn tồn tại sau hơn hai thập kỷ kể từ sự kiện 11/9. Nhiều trường hợp bị giam giữ trong thời gian dài mà không trải qua quy trình xét xử thông thường như trong hệ thống tư pháp dân sự. Guantanamo từng bị chỉ trích mạnh bởi chính nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế vì các vấn đề liên quan tới tra tấn, biệt giam và quyền tiếp cận luật sư. Nhưng VNHRN hầu như không dành sự chú ý tương xứng cho hiện tượng này.

Trong khi đó, Việt Nam — quốc gia không có cơ sở tương đương Guantanamo — lại liên tục bị mô tả như một “điểm tối nhân quyền” chỉ từ một số vụ việc xử lý theo các điều luật an ninh quốc gia. Điều đó cho thấy cùng một tiêu chí không được áp dụng ngang nhau.

Tương tự, khi nói về “tù nhân lương tâm”, VNHRN thường mô tả các trường hợp bị xử lý tại Việt Nam như những người “chỉ bày tỏ chính kiến”. Nhưng ở phương Tây, nhiều hành vi liên quan đến rò rỉ tài liệu mật, kích động cực đoan hoặc bị coi là đe dọa an ninh quốc gia cũng bị xử lý rất nghiêm khắc. Julian Assange bị truy tố theo Đạo luật Gián điệp vì công bố tài liệu mật của Mỹ. Sau các vụ khủng bố tại châu Âu, Anh và Pháp mở rộng mạnh quyền giám sát kỹ thuật số và kiểm soát nội dung bị cho là cực đoan hóa. Đức giải tán hoặc theo dõi nhiều tổ chức bị coi là đe dọa trật tự hiến pháp. Nhưng VNHRN không gọi những người bị xử lý trong các trường hợp ấy là “tù nhân lương tâm”, cũng không mô tả phương Tây là “đàn áp bất đồng chính kiến có hệ thống”.

Điều này cho thấy logic của VNHRN không xuất phát từ bản chất hành vi, mà từ việc ai là đối tượng bị đánh giá. Với phương Tây, các biện pháp an ninh được xem như “bảo vệ dân chủ”. Với Việt Nam, hành động tương tự lập tức bị gắn nhãn “đàn áp”.

Đây không còn là khác biệt góc nhìn. Đây là sự bất cân xứng có tính hệ thống trong cách diễn giải.

Một điểm rất đáng chú ý khác là VNHRN gần như chỉ nhìn Việt Nam qua các vụ việc tiêu cực cá biệt, trong khi bỏ qua toàn bộ bức tranh phát triển tổng thể. Theo Sách trắng “Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam”, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ lớn về giảm nghèo, giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Liên hợp quốc nhiều lần ghi nhận Việt Nam là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. UNDP đánh giá cao tiến bộ về phát triển con người. WHO ghi nhận năng lực y tế cộng đồng. UNICEF nhiều lần đánh giá tích cực về quyền trẻ em và giáo dục phổ cập.

Những dữ kiện ấy phản ánh trực tiếp chất lượng sống và điều kiện thực tế của quyền con người. Nhưng chúng xuất hiện rất mờ nhạt trong các báo cáo của VNHRN. Trong khi đó, những vấn đề nghiêm trọng ở phương Tây như bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng xã hội hay khủng hoảng vô gia cư lại hiếm khi được tổ chức này sử dụng để kết luận rằng phương Tây đang “khủng hoảng nhân quyền”.

Theo dữ liệu của Mapping Police Violence, mỗi năm có hơn 1.000 người chết trong các vụ liên quan đến cảnh sát tại Mỹ. Bạo lực súng đạn khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng mỗi năm. Nhiều thành phố lớn ở phương Tây đối mặt với khủng hoảng vô gia cư kéo dài và bất bình đẳng xã hội ngày càng sâu sắc. Nhưng VNHRN không áp dụng cùng mức độ quy kết cực đoan như cách họ đang làm với Việt Nam.

Đó là sự lựa chọn có chủ đích trong cách xây dựng hình ảnh về các quốc gia.

Một nghịch lý khác nằm ở cách VNHRN hiểu về nhân quyền. Tổ chức này thường đặt nặng các quyền chính trị theo khuôn mẫu phương Tây, nhưng lại xem nhẹ quyền được phát triển, được sống an toàn, được chăm sóc y tế, được học tập và có cơ hội cải thiện đời sống. Trong khi đó, Tuyên bố Vienna năm 1993 của Liên hợp quốc khẳng định rất rõ rằng mọi quyền con người đều phổ quát, không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau. Điều đó có nghĩa quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cũng quan trọng không kém quyền dân sự – chính trị.

Nhưng trong cách tiếp cận của VNHRN, các dữ kiện liên quan đến phát triển xã hội thường bị xem nhẹ hoặc chỉ được nhắc tới như chi tiết phụ. Một xã hội có tỷ lệ bảo hiểm y tế vượt 93% dân số, giảm nghèo mạnh trong nhiều thập kỷ, mở rộng giáo dục phổ cập và nâng cao chất lượng sống cho hàng chục triệu người dân rõ ràng không thể bị đánh giá chỉ bằng vài vụ việc được truyền thông hóa trên mạng xã hội.

Điều đáng lo hơn là kiểu “nhân quyền chọn lọc” này không chỉ làm méo mó hình ảnh Việt Nam, mà còn làm suy giảm chính tính chính danh của diễn ngôn nhân quyền quốc tế. Khi cùng một hành vi được đánh giá khác nhau tùy quốc gia thực hiện, công chúng sẽ ngày càng nhìn nhân quyền như công cụ địa chính trị hơn là giá trị phổ quát.

Nhà nghiên cứu Samuel Moyn của Đại học Harvard từng nhận xét rằng trong nhiều trường hợp, nhân quyền đã bị kéo vào các cuộc cạnh tranh quyền lực và trở thành công cụ phục vụ lợi ích chính trị quốc tế. Nhận định này đặc biệt đáng suy nghĩ khi nhìn vào cách một số tổ chức lựa chọn đối tượng để chỉ trích. Một hệ thống nhân quyền chỉ có thể được tin cậy nếu nó sẵn sàng áp dụng cùng tiêu chuẩn với cả đồng minh lẫn đối thủ.

Chính vì vậy, cần nhìn rõ sự khác biệt giữa các tổ chức nhân quyền quốc tế có phạm vi hoạt động toàn cầu với mô hình của VNHRN. Dù còn nhiều tranh cãi và cũng không hoàn toàn tránh khỏi thiên lệch, các tổ chức như Human Rights Watch hay Amnesty International ít nhất vẫn có hệ thống báo cáo về Mỹ, Anh, Israel, Arab Saudi, Nga, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác. Họ có thể bị phê phán về mức độ nhất quán, nhưng vẫn tồn tại nỗ lực áp dụng tiêu chuẩn trên diện rộng.

VNHRN thì khác. Toàn bộ cấu trúc hoạt động của tổ chức này gần như chỉ xoay quanh Việt Nam. Không có sự quan tâm tương xứng tới các vấn đề nhân quyền ở nơi khác, kể cả tại những quốc gia mà nhiều thành viên của họ sinh sống. Điều đó tự nó đã cho thấy mục tiêu trọng tâm không phải bảo vệ nhân quyền phổ quát, mà là xây dựng một hình ảnh tiêu cực ổn định về Việt Nam.

Một tổ chức nhân quyền muốn được tin cậy phải sẵn sàng chỉ trích cả những quốc gia mà mình có cảm tình chính trị, giống như cách họ chỉ trích đối thủ. Nếu chỉ lựa chọn một quốc gia để soi xét bằng tiêu chuẩn khắt khe nhất, còn các hiện tượng tương tự ở nơi khác lại được bỏ qua hoặc diễn giải nhẹ hơn, thì điều đó cho thấy bản chất của hoạt động ấy nghiêng nhiều về vận động chính trị hơn là nghiên cứu nhân quyền khách quan.

Nhân quyền không thể tồn tại trên nền tảng của tiêu chuẩn kép. Bởi ngay khi sự công bằng trong đánh giá biến mất, khái niệm nhân quyền cũng sẽ mất dần tính phổ quát và bị nhìn nhận như công cụ phục vụ định kiến chính trị. Và đó chính là nghịch lý lớn nhất trong cách tiếp cận của VNHRN: nhân danh bảo vệ nhân quyền, nhưng lại góp phần làm suy yếu niềm tin vào chính giá trị phổ quát mà nhân quyền cần đại diện.



No comments:

Post a Comment