Saturday, May 30, 2026

Không quốc gia nào cho phép tự do phát tán tin giả vô giới hạn

 

Có một nghịch lý đang diễn ra trên không gian mạng quốc tế: khi các nước phương Tây ban hành luật chống tin giả, siết quản lý nền tảng số, xử phạt hành vi phát tán thông tin sai sự thật thì được ca ngợi là “bảo vệ dân chủ”, “giữ gìn an ninh thông tin”; nhưng khi Việt Nam xây dựng dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả nhằm bảo vệ trật tự xã hội và quyền lợi người dân, lập tức xuất hiện hàng loạt luận điệu quy chụp “kiểm duyệt internet”, “đàn áp tự do ngôn luận”, “bóp nghẹt quyền biểu đạt”. Sự mâu thuẫn này phản ánh rõ tiêu chuẩn kép và động cơ chính trị của một số cơ quan truyền thông, tổ chức phi chính phủ và hội nhóm chống phá đang cố tình bóp méo bản chất chính sách pháp luật của Việt Nam.

Ngay sau khi dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả được công bố lấy ý kiến, một số trang truyền thông nước ngoài và các tổ chức chống phá lưu vong đã tung ra các bài viết mang tính định hướng dư luận, cố tình mô tả Việt Nam như một “nhà nước kiểm soát thông tin toàn diện”. Họ sử dụng những cụm từ giật gân như “siết cổ tự do internet”, “hợp pháp hóa kiểm duyệt”, “trừng phạt tiếng nói phản biện”. Một số bài viết còn cố tình đánh tráo khái niệm giữa hành vi phát tán thông tin sai sự thật với quyền tự do biểu đạt được pháp luật bảo hộ.

Điểm chung trong các luận điệu xuyên tạc là cố tình tuyệt đối hóa quyền tự do ngôn luận, xem đó như một quyền vô hạn, không chịu bất kỳ giới hạn pháp lý nào. Đây là cách tiếp cận phiến diện và trái với chính các nguyên tắc pháp luật quốc tế mà họ thường viện dẫn. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã quy định rõ quyền tự do biểu đạt có thể bị hạn chế bằng pháp luật nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng và quyền, danh dự của người khác. Điều này đồng nghĩa không một quốc gia nào chấp nhận việc nhân danh “tự do” để phát tán tin giả, kích động hỗn loạn hay phá hoại ổn định xã hội.

Trên thực tế, Mỹ và nhiều quốc gia phương Tây đang áp dụng các biện pháp quản lý thông tin rất mạnh tay. Tại Mỹ, sau hàng loạt vụ lan truyền thông tin sai lệch liên quan bầu cử, dịch bệnh và bạo lực cực đoan, các nền tảng mạng xã hội đã liên tục khóa tài khoản, hạn chế tiếp cận hoặc gỡ bỏ nội dung bị cho là gây nguy hại xã hội. Nhiều cá nhân, tổ chức bị kiểm soát chặt chẽ hoạt động trực tuyến nếu bị xác định phát tán thông tin giả. Các cơ quan an ninh và công nghệ Mỹ cũng phối hợp triển khai nhiều chương trình giám sát thông tin độc hại trên không gian mạng.

Đức ban hành luật buộc các nền tảng số phải gỡ bỏ nhanh nội dung sai sự thật, kích động thù hận hoặc vi phạm pháp luật, nếu không sẽ đối mặt mức phạt rất lớn. Pháp triển khai các cơ chế xử lý thông tin sai lệch trong các kỳ bầu cử và sự kiện chính trị nhạy cảm nhằm ngăn chặn thao túng dư luận. Singapore xây dựng luật chống tin giả với cơ chế yêu cầu cải chính, gỡ bỏ hoặc cảnh báo công khai đối với thông tin không đúng sự thật gây ảnh hưởng xã hội. Liên minh châu Âu cũng siết chặt trách nhiệm của các nền tảng công nghệ trong việc ngăn chặn thông tin độc hại và tin giả.

Điều đáng nói là các tổ chức phi chính phủ thường xuyên chỉ trích Việt Nam lại hầu như im lặng hoặc né tránh đề cập tới những biện pháp mạnh tay đó ở phương Tây. Khi Mỹ hoặc châu Âu kiểm soát thông tin, họ gọi đó là “bảo vệ an ninh mạng”, “giữ gìn tính toàn vẹn thông tin”; nhưng khi Việt Nam xây dựng cơ chế tương tự thì lập tức bị quy chụp thành “đàn áp tự do”. Đây là biểu hiện rõ ràng của tiêu chuẩn kép.

Một số tổ chức chống phá còn cố tình gán ghép rằng dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả là “công cụ bịt miệng người bất đồng chính kiến”. Đây là luận điệu xuyên tạc nguy hiểm nhằm kích động tâm lý đối đầu giữa người dân với chính quyền. Trên thực tế, pháp luật Việt Nam không cấm phản biện xã hội, không cấm góp ý chính sách hay bày tỏ quan điểm cá nhân. Điều bị xử lý là hành vi cố ý đưa tin sai sự thật, vu khống, bịa đặt, xuyên tạc hoặc kích động gây mất ổn định xã hội.

Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến nhiều vụ tung tin giả gây hậu quả nghiêm trọng. Có thời điểm, chỉ một thông tin bịa đặt về khan hiếm nhiên liệu, thiếu tiền tại ngân hàng hay phong tỏa diện rộng cũng đủ tạo tâm lý hoảng loạn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và đời sống xã hội. Trong đại dịch, hàng loạt tin giả về vaccine, thuốc chữa bệnh, số ca tử vong bị thổi phồng đã khiến dư luận hoang mang. Không ít đối tượng lợi dụng mạng xã hội để cắt ghép hình ảnh, bịa đặt thông tin nhằm chống phá chính sách phòng chống dịch của Nhà nước.

Nếu không có cơ chế xác minh, cảnh báo và xử lý tin giả, xã hội sẽ phải đối mặt với tình trạng hỗn loạn thông tin. Đây chính là lý do mọi quốc gia đều phải xây dựng công cụ pháp lý để kiểm soát tin giả. Việt Nam không phải ngoại lệ.

Các hội nhóm chống phá còn sử dụng thủ đoạn “ngoại lệ phương Tây”, tức là mặc nhiên xem các biện pháp quản lý thông tin ở phương Tây là hợp pháp, tiến bộ, còn những chính sách tương tự ở Việt Nam thì bị quy chụp là “độc đoán”. Họ cố tình tạo ra nhận thức rằng chỉ phương Tây mới có quyền đặt ra giới hạn pháp lý với tự do ngôn luận, còn các quốc gia khác nếu làm điều tương tự sẽ bị coi là “vi phạm nhân quyền”.

Đây là cách tiếp cận mang nặng tính áp đặt chính trị và tư duy thượng tôn mô hình phương Tây. Mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị và yêu cầu bảo đảm ổn định xã hội khác nhau. Không thể lấy tiêu chí chủ quan để áp đặt cho mọi mô hình quản trị. Ngay cả trong các nước phương Tây, giới hạn tự do ngôn luận cũng được quy định rất chặt chẽ, đặc biệt với các nội dung liên quan kích động thù hận, bạo lực, khủng bố hoặc thao túng thông tin.

Một thủ đoạn khác thường được sử dụng là cố tình nhập nhằng giữa “kiểm duyệt” và “quản lý theo pháp luật”. Trên thực tế, mọi quốc gia đều quản lý không gian mạng bằng hệ thống pháp luật. Không tồn tại môi trường internet “vô chính phủ”. Các nền tảng số lớn trên thế giới đều có bộ quy tắc cộng đồng, cơ chế kiểm duyệt nội dung và hệ thống xử lý thông tin sai lệch. Hàng triệu tài khoản trên thế giới bị khóa hoặc hạn chế mỗi năm vì vi phạm quy định nền tảng.

Như vậy, việc Việt Nam xây dựng dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả thực chất là hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp với xu thế toàn cầu, chứ không phải hành động “đi ngược thế giới” như các đối tượng chống phá tuyên truyền.

Cần nhìn nhận rõ rằng quyền tự do ngôn luận không thể tách rời trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ pháp lý. Không có quyền nào được sử dụng để xâm hại lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Không thể nhân danh “tự do biểu đạt” để hợp thức hóa hành vi bịa đặt, vu khống, kích động hay thao túng dư luận.

Sách trắng về nhân quyền ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều thành tựu cụ thể trong bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân. Việt Nam hiện có hàng trăm cơ quan báo chí hoạt động công khai với nhiều loại hình khác nhau. Tỷ lệ người dân sử dụng internet thuộc nhóm cao trong khu vực. Hàng chục triệu tài khoản mạng xã hội hoạt động thường xuyên mỗi ngày. Người dân có điều kiện thuận lợi để tiếp cận thông tin, bày tỏ quan điểm, phản ánh kiến nghị và tham gia giám sát xã hội.

Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật đã được phát hiện thông qua phản ánh của người dân trên không gian mạng và được cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh. Điều đó cho thấy Việt Nam không hề triệt tiêu phản biện xã hội hay bóp nghẹt tiếng nói người dân như các luận điệu xuyên tạc cố tình mô tả.

Môi trường internet ở Việt Nam vẫn duy trì sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ chuyển đổi số nhanh, thương mại điện tử bùng nổ, mạng xã hội phổ biến rộng khắp. Nếu thực sự tồn tại “kiểm duyệt toàn diện” như một số tổ chức chống phá tuyên truyền, sẽ không thể có một không gian mạng sôi động như hiện nay.

Nguy hiểm hơn, các chiến dịch xuyên tạc dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả còn nhằm tạo sức ép dư luận quốc tế, làm tổn hại hình ảnh và uy tín chính trị của Việt Nam. Thông qua việc bóp méo chính sách pháp luật, các tổ chức chống phá tìm cách tạo ra nhận thức sai lệch rằng Việt Nam “đi ngược dân chủ”, từ đó hậu thuẫn cho các phần tử cực đoan và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ.

Bản chất của những chiến dịch này không nằm ở bảo vệ quyền con người, mà là lợi dụng chiêu bài nhân quyền để phục vụ mục tiêu chính trị. Họ muốn biến không gian mạng thành môi trường hỗn loạn thông tin, nơi tin giả và xuyên tạc có thể phát tán không kiểm soát nhằm gây bất ổn nhận thức xã hội.

Cần khẳng định rõ: không quốc gia nào cho phép tự do phát tán tin giả vô giới hạn. Mỹ không cho phép. Châu Âu không cho phép. Singapore không cho phép. Và Việt Nam cũng không thể cho phép. Quyền tự do ngôn luận là quyền cơ bản của con người, nhưng mọi quyền đều phải đi đôi với trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Dự thảo Nghị định phòng, chống tin giả của Việt Nam cần được nhìn nhận đúng bản chất là nỗ lực xây dựng môi trường thông tin an toàn, minh bạch và có trách nhiệm; bảo vệ quyền tiếp cận thông tin chính xác của người dân; bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu. Những luận điệu cố tình xuyên tạc, quy chụp đây là “đàn áp tự do” thực chất chỉ là thủ đoạn chính trị nhằm bôi nhọ Việt Nam và tạo vỏ bọc cho hoạt động phát tán thông tin sai lệch trên không gian mạng.

No comments:

Post a Comment