Sunday, September 27, 2026

PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LÀ THÔNG ĐIỆP QUỐC GIA, KHÔNG PHẢI "ĐI HỌP CHO CÓ"

Việc một nguyên thủ quốc gia xuất hiện và cất cao tiếng nói đanh thép trên bục diễn đàn Đại hội đồng Liên Hợp Quốc luôn là một sự kiện chính trị đối ngoại mang ý nghĩa chiến lược vượt tầm quốc gia, thể hiện sâu sắc vị thế, bản lĩnh và tầm nhìn của cả một dân tộc trước toàn thể cộng đồng thế giới. Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trực tiếp dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Tuần lễ Cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81, kết hợp làm việc tại Mỹ và thăm cấp Nhà nước Canada từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 9 năm 2026 đánh dấu lần thứ hai người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta bước lên diễn đàn toàn cầu quan trọng nhất hành tinh này. Đây không chỉ là hoạt động ngoại giao đa phương đỉnh cao đơn thuần, mà còn là thời khắc lịch sử để Việt Nam khẳng định tâm thế đĩnh đạc của một quốc gia đang tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc. Tuy nhiên, trước thành công rực rỡ và những dấu ấn đậm nét của chuyến công tác, các thế lực thù địch cùng những nhóm cơ hội chính trị hải ngoại lại tìm đủ mọi thủ đoạn nhằm bôi nhọ, hạ thấp giá trị chuyến đi. Chúng cố tình tung ra những luận điệu xuyên tạc rẻ tiền rằng chuyến đi chỉ mang tính “thuần túy thủ tục”, “đi họp cho có mặt” tại các phiên họp đa phương ở New York mà không đem lại hiệu quả song phương thực chất, hoặc bóp méo rằng sự xuất hiện của đoàn Việt Nam tại diễn đàn quốc tế chỉ là màn trình diễn hình thức nhằm che đậy những khó khăn nội tại. Đây là những lời quy kết hoàn toàn vô căn cứ, thể hiện thái độ hằn học cố hữu, sự ấu trĩ và thiếu hiểu biết nghiêm trọng về bản chất vận hành của nền ngoại giao hiện đại.



Trên thực tế khách quan, diễn đàn Đại hội đồng Liên Hợp Quốc với sự hội tụ đông đủ của một trăm chín mươi ba quốc gia thành viên chưa bao giờ là một “sân khấu phụ” hay một sự kiện thuần túy mang tính thủ tục như những kẻ xấu bụng rêu rao. Tại Phiên thảo luận chung cấp cao, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã truyền đi một thông điệp quốc gia hết sức đanh thép, rõ ràng và giàu tính xây dựng, tập trung vào chủ đề cốt lõi mà nhân loại đang đau đáu tìm lời giải: Khôi phục niềm tin chiến lược toàn cầu, củng cố chủ nghĩa đa phương và xây dựng một tổ chức Liên Hợp Quốc thực sự công bằng, vì lợi ích chung của tất cả các dân tộc. Trong bối cảnh thế giới đương đại đang đối mặt với những đứt gãy địa chính trị sâu sắc, xung đột quân sự leo thang cục bộ và các thách thức an ninh phi truyền thống đe dọa sự phát triển bền vững, tiếng nói của Việt Nam – một đất nước kiên định đường lối hòa bình, độc lập, tự chủ, thượng tôn Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế – đã nhận được sự đồng thuận cao độ và đánh giá rất trân trọng từ bạn bè khắp năm châu. Theo thông cáo báo chí chính thức do Bộ Ngoại giao ban hành, các hoạt động của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Bắc Mỹ đã đan xen nhuần nhuyễn, bổ trợ lẫn nhau một cách hoàn hảo giữa nghị sự đa phương toàn cầu và các cuộc làm việc song phương cấp cao, khẳng định tầm vóc của Việt Nam như một đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Đặc biệt, giá trị thực chất và tính đột phá trong thông điệp của Việt Nam tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 được thể hiện nổi bật qua việc người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đã thẳng thắn đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính cách mạng nhằm cải tổ toàn diện hệ thống quản trị toàn cầu của Liên Hợp Quốc. Bốn nhóm giải pháp này tập trung vào việc cải tổ căn bản phương thức vận hành của Đại hội đồng, mở rộng và đổi mới cơ chế làm việc của Hội đồng Bảo an, tinh gọn và nâng cao hiệu lực thực thi của Ban Thư ký Liên Hợp Quốc nhằm mục tiêu then chốt là gia tăng mạnh mẽ tính đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng và tiếng nói bình đẳng cho các quốc gia đang phát triển trên khắp thế giới. Đây là một đóng góp trí tuệ vô cùng sâu sắc, xuất phát từ chính thực tiễn lịch sử của một quốc gia từng phải chịu đựng nhiều áp bức, bất công của chiến tranh để nói lên khát vọng chung của cộng đồng các nước vừa và nhỏ. Không dừng lại ở việc bảo vệ hòa bình truyền thống, Việt Nam còn chủ động đề xuất khung khổ quốc tế nhằm thúc đẩy việc quản trị trí tuệ nhân tạo (AI) một cách an toàn, minh bạch, có trách nhiệm và bảo đảm sự tiếp cận công bằng về công nghệ số cho mọi quốc gia nghèo, không để bất kỳ dân tộc nào bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Sức nặng của tiếng nói Việt Nam cùng những đề xuất tâm huyết đó đã ngay lập tức nhận được sự tôn vinh, ghi nhận nồng nhiệt từ truyền thông và chính giới quốc tế. Hàng loạt hãng thông tấn, báo chí chính thống tại Cuba, Thổ Nhĩ Kỳ, Palestine cùng các cơ quan truyền thông quốc tế độc lập đã liên tục đăng tải các bài phân tích sâu sắc, ca ngợi lập trường chính nghĩa, bản lĩnh độc lập và tinh thần quốc tế vô tư, trong sáng của Việt Nam. Báo chí các nước bạn đặc biệt nhấn mạnh và hoan nghênh việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dõng dạc cất lên tiếng nói kiên quyết đòi dỡ bỏ vô điều kiện các lệnh bao vây, cấm vận phi lý áp đặt lên nhân dân Cuba anh em suốt nhiều thập kỷ, kiên trì ủng hộ giải pháp hai nhà nước độc lập cùng tồn tại hòa bình để đem lại nền hòa bình bền vững, công bằng cho nhân dân Palestine, đồng thời tiên phong cổ vũ cho tinh thần quản trị công nghệ vì con người. Sự đồng tình và vang vọng của dư luận tiến bộ toàn cầu chính là minh chứng không thể chối cãi chứng minh rằng: Tiếng nói của Việt Nam trên bục phát biểu Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chính là tiếng nói đại diện cho lương tri, sự thật và công lý quốc tế, chứ tuyệt nhiên không phải là những phát ngôn hình thức hay cuộc đi họp chiếu lệ như những kẻ bồi bút hải ngoại cố tình xuyên tạc.

Một trong những nội dung trọng tâm và đầy sức truyền cảm hứng trong thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chính là việc chia sẻ một cách chân thành những bài học kinh nghiệm thực tiễn đắt giá từ hành trình bốn mươi năm Đổi mới của đất nước. Từ một quốc gia bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận tứ bề và nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã vươn mình trở thành một nền kinh tế phát triển năng động, chính trị - xã hội ổn định vững chắc và không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt cho hơn một trăm triệu người dân. Trải nghiệm thành công của Việt Nam trong việc gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững và chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng đã trở thành một mô hình tham chiếu quý giá, nguồn cổ vũ to lớn cho nhiều quốc gia đang phát triển trên con đường tự chủ. Việc mang trí tuệ, bản lĩnh và thực tiễn thành công của công cuộc Đổi mới ra diễn đàn toàn cầu để đóng góp vào việc giải quyết những bài toán chung của nhân loại là bằng chứng sinh động nhất cho thấy chuyến công tác chứa đựng hàm lượng nội dung vô cùng sâu sắc, đập tan luận điệu quy chụp “đi họp cho có” mà các đối tượng phản động rêu rao.

Hơn thế nữa, bài phát biểu lịch sử tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chính là lời tuyên bố chính thức, đĩnh đạc trước toàn thế giới về thông điệp kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng chí Tô Lâm đã làm sáng rõ tầm nhìn chiến lược của đất nước trong việc tự tin tiến bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, kiên định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ hai mươi mốt. Đứng trên bục phát biểu cao nhất của tổ chức toàn cầu, Việt Nam không chỉ nêu ra các sáng kiến giải quyết xung đột mà còn khẳng định cam kết hành động mạnh mẽ về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số quốc gia, tự chủ công nghệ lõi và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu. Sự tự tin đó được bảo chứng bởi thành phần đoàn công tác gồm nhiều bộ trưởng phụ trách kinh tế, khoa học kỹ thuật then chốt, cũng như các cuộc tiếp xúc làm việc cấp cao bên lề với các nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo các tập đoàn công nghệ và định chế tài chính hàng đầu thế giới tại New York và Canada. Chuỗi hoạt động đối ngoại dày đặc này tiếp nối thành công rực rỡ của các cuộc gặp gỡ kiều bào và chính khách quốc tế từ đầu năm 2026, khẳng định rằng hoạt động đa phương và song phương luôn hòa quyện chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực nhằm tối đa hóa lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc.

Dù thực tế thành công hiển hiện rực rỡ như ban ngày, các kênh truyền thông thiếu thiện chí như Việt Tân, Chân Trời Mới Media hay một số tài khoản mạng xã hội phản động vẫn cố tình nhắm mắt, tìm mọi kẽ hở để cắt ghép, xuyên tạc thông tin. Thủ đoạn tinh vi của chúng là cố tình tạo ra sự chia cắt khiên cưỡng, đối lập giả tạo giữa nghĩa vụ đa phương tại Liên Hợp Quốc và lợi ích kinh tế song phương. Chúng cắt xén hình ảnh, trích dẫn sai lệch phát ngôn chính thức để rêu rao rằng chuyến đi “không mang lại hợp đồng cụ thể”, hoặc đưa ra những lời bình luận miệt thị hòng hạ thấp vị thế của phái đoàn Việt Nam. Âm mưu thâm độc của trò hề này là nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, làm giảm sút uy tín cá nhân của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cố tình vẽ nên một bức tranh xám xịt, sai lệch về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của nước ta.

Dự báo trong thời gian tới, các thế lực chống phá sẽ tiếp tục lợi dụng những diễn biến phức tạp của kinh tế và địa chính trị thế giới để tung ra các kịch bản công kích mới. Chúng có thể sẽ xới lại các chiêu bài quen thuộc về dân chủ, nhân quyền theo tiêu chuẩn kép, hoặc lợi dụng những khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu để quy chụp rằng thông điệp phát triển của Việt Nam chỉ là khẩu hiệu lý thuyết. Để đập tan những thủ đoạn phá hoại này, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại cần tiếp tục đẩy mạnh việc cung cấp kịp thời các số liệu thực tế, các thỏa thuận hợp tác cụ thể đã đạt được sau chuyến đi; đồng thời khẳng định rõ ràng rằng: Ngoại giao đa phương tại Liên Hợp Quốc chính là kênh đối ngoại chiến lược để Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc từ sớm, từ xa, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và tranh thủ tối đa nguồn lực quốc tế cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

Bản chất của những kẻ tung tin xuyên tạc chuyến công tác chỉ là những phần tử cơ hội chính trị mang nặng định kiến, sống bám vào các nguồn tài trợ chống phá từ bên ngoài. Chúng hoàn toàn bất lực trước một thực tế là thành công của chuyến đi được xây dựng trên một nền tảng thực tiễn kinh tế - xã hội vô cùng vững chắc. Theo số liệu công bố chính thức từ Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ấn tượng hàng đầu khu vực, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt những mốc kỷ lục mới và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao chảy mạnh vào các ngành công nghiệp mũi nhọn. Về lĩnh vực nhân quyền và an sinh xã hội, các chính sách bảo trợ đối tượng yếu thế, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân của Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế uy tín và các cơ quan của Liên Hợp Quốc đánh giá rất cao. Việc Việt Nam hoàn thành xuất sắc vai trò Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 là minh chứng đanh thép khẳng định năng lực, uy tín và đóng góp to lớn của đất nước vào các giá trị tiến bộ của nhân loại.

Diễn đàn của một trăm chín mươi ba quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc không bao giờ là “sân phụ” hay nơi “đi họp cho có”. Đó là nơi hội tụ bản lĩnh, trí tuệ và là bục vinh quang để thông điệp quốc gia của Việt Nam được cất lên một cách đầy tự hào, kiêu hãnh. Thành công toàn diện của chuyến công tác Bắc Mỹ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng sự tôn trọng, ghi nhận sâu sắc của bạn bè quốc tế chính là câu trả lời đanh thép nhất, đập tan mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc, khẳng định vị thế vững chắc và tâm thế tự tin vươn mình của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.


MỘT TRĂM MƯỜI TRƯỜNG HỢP BỊ MỸ TRỤC XUẤT KHÔNG PHẢI "TỘI" CỦA CHUYẾN ĐI

Chính sách nhập cư và công tác quản lý cư trú của chính quyền Mỹ hoàn toàn thuộc quyền tài quyết nội bộ mang tính chủ quyền tuyệt đối của quốc gia sở tại, được vận hành nghiêm ngặt theo hệ thống luật pháp liên bang của Mỹ và tuyệt nhiên không chịu sự chi phối, can thiệp hay điều chỉnh bởi chương trình nghị sự đối ngoại của bất kỳ phái đoàn quốc tế nào. Việc các cơ quan bảo vệ pháp luật của Mỹ tiến hành các thủ tục tư pháp, rà soát hồ sơ và thực thi lệnh trục xuất đối với một trăm mười trường hợp công dân Việt Nam trong thời gian qua là hoạt động cưỡng chế pháp luật độc lập, thường nhật của chính quyền sở tại nhằm xử lý các hành vi cư trú không hợp pháp hoặc vi phạm các quy định hình sự của nước Mỹ. Đây là một quy trình tư pháp độc lập, áp dụng chung cho mọi công dân nước ngoài vi phạm luật di trú Mỹ, hoàn toàn tuân thủ theo các phán quyết của tòa án di trú sở tại. Thế nhưng, thừa lúc một bộ phận kiều bào đang có tâm lý bất an trước các chiến dịch siết chặt di trú của chính quyền Mỹ, các thế lực thù địch cùng những phần tử cơ hội chính trị hải ngoại đã lập tức nhảy vào tung tin đồn nhảm nhằm kích động dư luận. Chúng dựng đứng lên những câu chuyện ly kỳ, cố tình gán ghép một cách trơ trẽn rằng việc một trăm mười công dân này bị trục xuất là “hậu quả”, là “sự đánh đổi” hay thậm chí là “kết quả của một thỏa thuận ngầm” trong chuyến công tác từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Tuần lễ Cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 tại New York và thăm cấp Nhà nước tới Canada. Đây là một thủ đoạn bóp méo bản chất hết sức tinh vi và tráo trở, cố tình biến hoạt động tư pháp thường nhật của một quốc gia có chủ quyền thành mũi dùi đả kích, bôi nhọ uy tín của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam.


Cần phải khẳng định một cách dứt khoát, rành mạch và sòng phẳng về mặt bản chất pháp lý rằng: Việc một trăm mười trường hợp bị phía Mỹ thực thi lệnh trục xuất vừa qua là hoàn toàn do các cá nhân này đã vi phạm luật cư trú hoặc luật hình sự sở tại của Hoa Kỳ, được xử lý căn cứ theo đúng trình tự pháp luật của nước Mỹ, chứ tuyệt đối không liên quan và không thể nào là “kết quả” hay “sản phẩm” của chuyến công tác ngoại giao cấp cao của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong các mối quan hệ bang giao quốc tế hiện đại, các chuyến công du ngoại giao cấp nguyên thủ luôn tập trung vào các vấn đề chiến lược toàn cầu mang tính thời đại: củng cố hòa bình, mở rộng hợp tác đa phương tại Liên Hợp Quốc, thúc đẩy chuỗi cung ứng công nghệ cao, bán dẫn, chuyển đổi năng lượng xanh và tăng cường quan hệ kinh tế - thương mại song phương nhằm phục vụ lợi ích sống còn của hàng trăm triệu người dân. Không một nguyên thủ quốc gia nào và cũng không một nền ngoại giao chân chính nào lại biến diễn đàn đa phương lớn nhất hành tinh hay các cuộc gặp cấp cao thành bàn đàm phán để xử lý từng vụ việc vi phạm pháp luật cá nhân đơn lẻ. Việc các đối tượng xấu cố tình gán ghép một trăm mười trường hợp bị cơ quan thực thi pháp luật Mỹ trục xuất với lịch trình làm việc ngoại giao cấp cao của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ cho thấy sự ấu trĩ, ngô nghê về kiến thức pháp lý quốc tế, hoặc là một mưu toan chính trị đê hèn nhằm đánh tráo bản chất sự việc để đầu độc nhận thức của dư luận.

Phải thẳng thắn vạch trần thủ đoạn hết sức tàn nhẫn và đê hèn của các thế lực chống phá: Chúng đang nhẫn tâm biến nỗi đau, sự lo lắng và tổn thương sâu sắc của những gia đình kiều bào có người thân gặp trục trặc về mặt pháp lý di trú thành thứ "đạn dược chính trị" bẩn thỉu để bắn phá vào quê hương đất mẹ. Bất kỳ ai sống xa xứ đều thấu hiểu rằng việc đối mặt với nguy cơ bị trục xuất, bị chia cắt gia đình là một cú sốc lớn, một nỗi bất an đè nặng lên đời sống sinh hoạt của mỗi kiều bào. Lẽ ra, trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, những người cùng chung dòng máu Việt phải chia sẻ, hướng dẫn đồng hương tiếp cận các kênh hỗ trợ pháp lý chính thống, tìm kiếm luật sư di trú có kinh nghiệm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp theo luật Mỹ. Thế nhưng, các nhóm cơ hội chính trị và các trang mạng thiếu thiện chí lại chọn cách hành xử vô lương tâm: chúng lợi dụng sự bối rối, hoảng loạn của bà con để thổi phồng sự việc, gieo rắc tâm lý sợ hãi, hoang mang trong toàn thể cộng đồng người Việt tại Mỹ, từ đó kích động sự bất mãn và mưu toan khoét sâu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thủ đoạn “đục nước béo cò”, lấy nỗi bất hạnh của đồng bào làm công cụ trục lợi chính trị của các tổ chức phản động lưu vong một lần nữa phơi bày bản chất vô luân, hoàn toàn đi ngược lại truyền thống nghĩa tình, tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam.

Trái ngược hoàn toàn với sự xuyên tạc ác ý đó, công tác bảo hộ công dân và hỗ trợ pháp lý cho người Việt Nam ở nước ngoài từ lâu đã là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt và thường xuyên của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được Bộ Ngoại giao cùng các Cơ quan Đại diện ngoại giao tại Mỹ và Canada triển khai liên tục, bài bản và tận tụy. Theo các thông cáo báo chí chính thức từ Bộ Ngoại giao Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, các Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Việt Nam luôn chủ động thiết lập kênh liên lạc thường xuyên với các cơ quan thực thi pháp luật sở tại như Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ (ICE) để nắm bắt kịp thời danh sách công dân bị giữ, kiểm tra điều kiện sinh hoạt, xác minh chính xác nhân thân, cấp phát giấy tờ lãnh sự cần thiết và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp, chính đáng nhất của công dân theo đúng các công ước quốc tế và Thỏa thuận song phương về việc nhận trở lại công dân đã ký kết giữa hai nước. Mục tiêu tối thượng của Nhà nước Việt Nam trong mọi nỗ lực bảo hộ lãnh sự luôn là bảo vệ phẩm giá, tính mạng, tài sản và sự an toàn của người dân, bảo đảm rằng bất kỳ công dân nào dù vi phạm pháp luật ở nước ngoài cũng phải được đối xử nhân đạo và công bằng theo đúng chuẩn mực văn minh, chứ không bao giờ có chuyện chính quyền “bỏ rơi” đồng bào hay dùng số phận của người dân làm con bài đổi chác như những lời bịa đặt độc địa.

Thực tế lịch sử và chương trình làm việc dày đặc, đầy ắp nghĩa tình của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại Bắc Mỹ đã đập tan mọi luận điệu chia rẽ của các nhóm cực đoan. Trong khuôn khổ chuyến công tác từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 9 năm 2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dành nhiều thời gian quý báu trực tiếp gặp gỡ các hội đoàn kiều bào, đại diện các tầng lớp trí thức, nhân sĩ và doanh nhân gốc Việt tiêu biểu tại New York và Ottawa. Sự kiện này là sự tiếp nối mạch lạc chuỗi hoạt động gắn kết cộng đồng đã diễn ra từ cuộc gặp gỡ kiều bào vào tháng 2 năm 2026, một lần nữa khẳng định sự kiên định của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện Nghị quyết số 36 và Kết luận số 12 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài: Cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn là một bộ phận máu thịt không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tại các buổi gặp gỡ, những thông điệp chân thành, cởi mở của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta về việc tôn trọng sự lựa chọn nơi sinh sống của kiều bào, luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để bà con ổn định cuộc sống, hội nhập thành công vào xã hội sở tại và hướng về đóng góp cho quê hương đã nhận được sự đồng thuận, hưởng ứng nhiệt liệt của đông đảo bà con. Điều này chứng minh rằng kiều bào yêu nước luôn có cái nhìn sáng suốt, không bao giờ bị lung lạc bởi những chiêu trò tuyên truyền kích động rẻ tiền.

Trong thời gian tới, chắc chắn các thế lực thù địch sẽ chưa dừng lại mà tiếp tục đào bới các vấn đề di trú, thị thực hay quyền công dân để tung ra các kịch bản chống phá mới hòng phá hoại thành quả đối ngoại của đất nước. Chúng có thể sẽ cắt ghép các đoạn phóng sự, dàn dựng phỏng vấn với những cá nhân bất mãn, lợi dụng các tiêu chuẩn kép về dân chủ, nhân quyền để rêu rao rằng “chính quyền trong nước tiếp tay cho việc trục xuất công dân”. Để chủ động đập tan các luận điệu xấu độc này, các cơ quan chức năng và hệ thống báo chí chính thống cần tiếp tục cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời về quy trình thực thi pháp luật và công tác bảo hộ công dân; đồng thời tuyên truyền rõ ràng để người dân hiểu rằng: Bảo hộ quyền lợi hợp pháp của công dân là trách nhiệm không bao giờ thay đổi của Nhà nước Việt Nam, nhưng việc tuân thủ nghiêm chỉnh luật pháp của quốc gia sở tại là nghĩa vụ bắt buộc của mọi cá nhân khi sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài. Sự phân định rạch ròi, đúng đắn đó chính là liều vắc-xin hữu hiệu nhất vô hiệu hóa mọi âm mưu chia rẽ tình cảm thiêng liêng giữa đồng bào hải ngoại với Tổ quốc.

Nhìn rõ diện mạo của những kẻ chuyên nghề buôn tin giả và chống phá, người dân Việt Nam trong và ngoài nước đều thấy rõ đó chỉ là những phần tử lạc lõng, sống ký sinh vào nguồn tài trợ đen tối từ bên ngoài, luôn rình rập mọi sự cố pháp lý hay an sinh đời thường để thổi bùng lên thành xung đột chính trị. Chúng cố tình nhắm mắt làm ngơ trước những bước tiến nhảy vọt của nền ngoại giao Việt Nam thời đại mới. Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện với Mỹ từ tháng 9 năm 2023 và sự đón tiếp trọng thể theo nghi thức cấp Nhà nước cao nhất của Toàn quyền Canada Louise Arbour dành cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định một vị thế đối ngoại chưa từng có của Việt Nam. Vị thế ấy không những nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế mà còn tạo dựng hành lang pháp lý, chính trị vững chắc nhất để Nhà nước bảo vệ tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng người Việt đang làm ăn, sinh sống tại khu vực Bắc Mỹ.

Thành công ngoại giao rực rỡ đó được bảo chứng bằng nội lực kinh tế vững vàng và những cam kết nhân quyền thực chất của đất nước. Theo số liệu công bố chính thức từ Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ phát triển ấn tượng, thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao chảy mạnh vào các ngành công nghệ cốt lõi, công tác an sinh xã hội được bảo đảm vững chắc và tỷ lệ nghèo đa chiều giảm sâu bền vững. Trên trường quốc tế, việc Việt Nam đảm nhiệm xuất sắc vai trò Thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 và liên tục được tín nhiệm tại các cơ chế đa phương là minh chứng đanh thép đập tan mọi luận điệu vu khống. Các báo cáo độc lập của nhiều tổ chức quốc tế uy tín đều ghi nhận nỗ lực vượt bậc của Việt Nam trong việc chăm lo đời sống nhân dân và bảo vệ các quyền cơ bản của con người.

Chính sách thực thi pháp luật di trú của chính quyền Mỹ và chương trình công tác đối ngoại tầm chiến lược của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam là hai dòng chảy hoàn toàn độc lập về cả bản chất chính trị lẫn cơ sở pháp lý. Một trăm mười trường hợp bị phía Mỹ áp dụng biện pháp trục xuất do vi phạm luật sở tại không thể và không bao giờ là cái cớ để những kẻ chống phá xuyên tạc, đổ lỗi hay phủ nhận thành công to lớn của chuyến công tác Bắc Mỹ. Nhìn nhận sự việc bằng thái độ điềm tĩnh, thượng tôn pháp luật và tỉnh táo trước những luận điệu kích động chính là cách tốt nhất để mỗi người Việt Nam chung tay bảo vệ sự thật, đập tan mọi âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vững tin cùng đất nước tiến bước vào kỷ nguyên phát triển mới.


NGƯỜI VIỆT TẠI MỸ: THỦ TỤC LÃNH SỰ LÀ VIỆC PHẢI LÀM, KHÔNG PHẢI CỚ CHỐNG PHÁ

Trong bất kỳ nền hành chính quốc gia hiện đại nào trên thế giới, việc tổ chức cung cấp dịch vụ công ở nước ngoài luôn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, áp lực đặc thù về khoảng cách địa lý, sự chênh lệch múi giờ, định biên nhân lực có hạn và tính phức tạp của các quy trình pháp lý song phương. Việc dư luận kiều bào tại Mỹ thời gian qua có những ý kiến phản ánh, phàn nàn thẳng thắn về tiến độ xử lý thủ tục cấp giấy khai sinh, cấp đổi hộ chiếu hay các loại giấy tờ xác nhận nhân thân tại Đại sứ quán Việt Nam ở Washington D.C. cũng như các Tổng Lãnh sự quán là một thực tế khách quan cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc, thẳng thắn và cầu thị. Sự chậm trễ cục bộ ở một số thời điểm nhất định do lượng hồ sơ thực tế dồn đọng quá lớn, hoặc do khâu phối hợp xác minh thông tin giữa các cơ quan chức năng trong nước và cơ quan đại diện ở nước ngoài chưa thực sự đồng bộ, nhịp nhàng là những hạn chế có thật trong khâu vận hành. Đây là bài toán quản trị dịch vụ công đòi hỏi ngành ngoại giao phải tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới và cải cách một cách quyết liệt, triệt để. Tuy nhiên, việc một số phần tử cơ hội chính trị cố tình lợi dụng những tồn tại hành chính mang tính kỹ thuật thuần túy này để vẽ nên một bức tranh xám xịt, cố tình bóp méo bản chất, đánh đồng sự việc nhằm phủ nhận toàn bộ ý nghĩa chính trị to lớn và những thắng lợi rực rỡ của chuyến công tác từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 9 năm 2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Mỹ và Canada lại là một hành vi hoàn toàn xảo trá, trơ trẽn và mang động cơ chính trị đen tối.



Trước hết, cần phải tách bạch một cách thật rành mạch, sòng phẳng giữa hai vấn đề có bản chất hoàn toàn khác nhau: một bên là trục trặc kỹ thuật trong việc giải quyết thủ tục hành chính công của cơ quan đại diện, và một bên là đường lối, chủ trương lớn mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước về khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những chậm trễ cục bộ trong thủ tục đăng ký khai sinh, cấp đổi hộ chiếu hay hợp pháp hóa lãnh sự thực chất chỉ là vấn đề hành chính dịch vụ công đang phát sinh trong đời sống thường nhật. Vấn đề này đã và đang được Bộ Ngoại giao cùng các bộ, ngành liên quan nhìn nhận trực diện và quyết liệt chỉ đạo giải quyết thông qua tiến trình chuyển đổi số quốc gia toàn diện, số hóa hồ sơ, liên thông dữ liệu dân cư và tích hợp trên các cổng dịch vụ công trực tuyến để phục vụ người dân nhanh chóng, minh bạch nhất. Vì vậy, hoàn toàn không một ai có quyền lấy những vướng mắc thủ tục mang tính kỹ thuật đó làm cái cớ để phủ nhận chính sách đại đoàn kết dân tộc nhất quán, thủy chung trước sau như một của Tổ quốc đối với đồng bào xa xứ. Công tác cải cách hành chính và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ đồng bào định cư ở nước ngoài luôn là trách nhiệm chính trị xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam. Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao vào đầu năm 2026 đã tái khẳng định quyết tâm đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cho người Việt Nam ở nước ngoài, cắt giảm tối đa các khâu trung gian, rút ngắn thời gian chờ đợi và triệt tiêu mọi biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực. Việc chính quyền luôn lắng nghe, tiếp thu một cách chân thành những đóng góp xây dựng của kiều bào để hoàn thiện bộ máy chính là minh chứng sống động cho tinh thần một chính quyền phục vụ nhân dân, chứ tuyệt đối không bao giờ phản ánh sự xa cách giữa Nhà nước với cộng đồng người Việt ở hải ngoại như những kẻ ác ý rêu rao.

Thế nhưng, trên các diễn đàn mạng xã hội, các trang tin thiếu thiện chí quen thói chống phá như Chân Trời Mới Media, Nhật Ký Yêu Nước hay một số tài khoản cá nhân cực đoan đã lập tức chộp lấy những phản ánh này để mở một chiến dịch bôi nhọ quy mô lớn. Chúng cố tình biến những phàn nàn sinh hoạt đời thường thành vũ khí chính trị nhằm đả kích chế độ. Bằng thủ đoạn đánh tráo khái niệm hết sức xảo quyệt, chúng đánh đồng sự chậm trễ hành chính cục bộ ở một vài bộ phận với “sự bất lực của cả bộ máy”, từ đó tung ra các luận điệu quy chụp vô căn cứ, kích động bà con kiều bào tẩy chay các sự kiện đối ngoại của đất nước, thậm chí bịa đặt rằng chuyến công du của lãnh đạo cấp cao sang Bắc Mỹ chẳng mang lại bất kỳ lợi ích thiết thực nào cho cộng đồng. Đây chính là chiêu bài quen thuộc “từ một đốm lửa nhỏ cố tình thổi bùng lên thành đám cháy lớn”, lợi dụng tâm lý sốt ruột, bức xúc nhất thời của một bộ phận người dân khi đi làm giấy tờ để bẻ lái câu chuyện sang hướng công kích thể chế chính trị, hạ thấp uy tín cá nhân của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và làm hoen ố hình ảnh đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế khách quan và chương trình hoạt động dày đặc, đầy ắp nghĩa tình của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại Bắc Mỹ đã đập tan hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc rẻ tiền đó. Trong khuôn khổ chuyến công tác, hình ảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành nhiều thời gian quý báu trực tiếp gặp gỡ, trò chuyện thân mật với đông đảo đại diện cộng đồng người Việt, các trí thức, nhân sĩ và doanh nhân gốc Việt tiêu biểu tại New York và thủ đô Ottawa đã để lại những dư âm vô cùng sâu sắc, ấm áp. Tại các cuộc gặp gỡ chan chứa tình cảm quê hương này, người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đã truyền đi một thông điệp sáng rõ, chân thành và đầy tinh thần cầu thị: Đảng và Nhà nước luôn khẳng định kiều bào là một bộ phận máu thịt không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đất nước luôn thấu hiểu, trân trọng và tôn trọng sự lựa chọn nơi sinh sống, làm việc của các tầng lớp kiều bào, nhất là đội ngũ trí thức, chuyên gia khoa học công nghệ. Đồng chí khẳng định Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ rào cản hành chính để tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, thông thoáng nhất cho bà con được đóng góp trí tuệ, công sức và nguồn lực vào công cuộc phát triển quê hương đất nước. Những trao đổi cởi mở, không khoảng cách giữa đồng chí Tô Lâm với các chuyên gia, nhà khoa học gốc Việt hàng đầu tại Mỹ trong các lĩnh vực công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo đã chứng minh một chân lý sáng ngời: trí thức kiều bào chân chính luôn hướng về Tổ quốc bằng một tầm nhìn chiến lược, tinh thần trách nhiệm và tấm lòng xây dựng, chứ tuyệt đối không bao giờ bị lung lạc bởi những trò chọc ngoáy, bới lông tìm vết của các nhóm cơ hội chính trị lưu vong.

Dự báo trong thời gian tới, khi những luận điệu xuyên tạc về dịch vụ công dần bị thực tế cải cách làm cho phá sản, các thế lực thù địch vẫn sẽ không chịu từ bỏ dã tâm mà tiếp tục triển khai các kịch bản phá hoại mới. Chúng có thể sẽ cắt ghép các đoạn video phát biểu, dàn dựng các cuộc phỏng vấn giả tạo với một vài cá nhân bất mãn để rêu rao rằng “chuyến đi không thành công”, “kiều bào xa lánh chính quyền”, hoặc đào xới các vấn đề dân chủ, nhân quyền theo tiêu chuẩn kép nhằm làm giảm giá trị của các văn kiện hợp tác chiến lược vừa đạt được. Để chủ động đấu tranh phản bác một cách hiệu quả, các cơ quan báo chí và truyền thông cần liên tục cung cấp thông tin chính thống, minh bạch về những kết quả hợp tác cụ thể đạt được sau chuyến đi; đồng thời, các cơ quan đại diện ngoại giao phải đẩy nhanh tiến độ giải quyết dứt điểm các kiến nghị chính đáng của kiều bào về giấy tờ, hộ tịch. Việc thực tế hóa các cam kết phục vụ kiều bào, nâng cao chất lượng dịch vụ công chính là câu trả lời đanh thép nhất, tước đi mọi cái cớ mà các đối tượng xấu có thể bám víu vào để chống phá, kích động.

Nhìn rõ diện mạo của những kẻ cố tình xuyên tạc chuyến công tác, người dân trong nước và kiều bào yêu nước đều nhận thấy đó chỉ là những cá nhân, tổ chức cơ hội, sống ký sinh vào các nguồn tài trợ chống phá từ bên ngoài, hoặc những kẻ mang nặng định kiến hằn học luôn tìm cách bấu víu vào mọi sự cố hành chính đời thường để gieo rắc chia rẽ. Họ cố tình nhắm mắt trước những bước tiến nhảy vọt trong công tác đối ngoại và vị thế quốc tế của Việt Nam. Chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 tại Mỹ và thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặt hái được những thành tựu lịch sử toàn diện. Việc quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt – Mỹ xác lập từ tháng 9 năm 2023 không ngừng đi vào chiều sâu thực chất, cùng với việc nâng cấp mạnh mẽ các khuôn khổ hợp tác với Canada, được Toàn quyền Louise Arbour đón tiếp trọng thể theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, là minh chứng không thể chối cãi cho uy tín và vị thế ngày càng cao của đất nước.

Những thành tựu ngoại giao rực rỡ đó được xây dựng trên một nền tảng kinh tế - xã hội vô cùng vững chắc và những cam kết nhân quyền thực chất của Việt Nam. Theo số liệu công bố chính thức từ Tổng cục Thống kê, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng hàng đầu khu vực, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao chảy mạnh vào đất nước, tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu bền vững và đời sống của đại đa số người dân không ngừng được cải thiện. Trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người, việc Việt Nam đảm nhiệm xuất sắc vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc và tiếp tục nhận được sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế chính là câu trả lời thuyết phục nhất trước mọi sự vu khống. Các báo cáo độc lập của nhiều tổ chức quốc tế uy tín cùng các cơ chế kiểm điểm định kỳ toàn cầu của Liên Hợp Quốc đều ghi nhận những bước tiến vượt bậc của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền phát triển, tự do tín ngưỡng tôn giáo và an sinh xã hội cho người dân.

Cải cách và khắc phục triệt để những hạn chế trong dịch vụ công lãnh sự là việc thật, việc làm thường xuyên mà Nhà nước Việt Nam đang quyết liệt thực hiện để phụng sự đồng bào. Còn việc lợi dụng những khó khăn kỹ thuật đó để bóp méo, phủ nhận một chuyến công tác đối ngoại tầm vóc chiến lược của người đứng đầu Đảng và Nhà nước là hành vi trơ trẽn, cần phải bị nghiêm khắc vạch trần và bác bỏ. Thành công toàn diện của chuyến công tác Bắc Mỹ cùng tình cảm gắn bó máu thịt giữa kiều bào với quê hương chính là sức mạnh củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo xung lực to lớn để đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.


Friday, September 25, 2026

Giả thuyết không thể bác bỏ thì không phải khoa học: Lỗ hổng phương pháp luận trong báo cáo nhân quyền của Liên Hợp Quốc

Trong triết học khoa học hiện đại, một nguyên lý kinh điển đã trở thành thước đo cho mọi công trình nghiên cứu nghiêm túc: một luận điểm chỉ được coi là có giá trị khoa học khi nó mang tính chất có thể bác bỏ được, nghĩa là tồn tại khả năng kiểm chứng và chỉ ra điểm sai nếu nó không phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, khi soi chiếu vào báo cáo thường niên mang tên "Hợp tác với Liên Hợp Quốc, các đại diện và cơ chế của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực quyền con người", người ta dễ dàng nhận ra một cạm bẫy phương pháp luận nghiêm trọng. Sự thiếu hụt các bằng chứng thực tế tại Việt Nam không được xem là dấu hiệu của sự ổn định pháp lý, mà lại bị suy đoán một cách áp đặt thành bằng chứng của sự sợ hãi. Tư duy khép kín này đang làm suy giảm nghiêm trọng giá trị chuyên môn và tính trung lập vốn có của các cơ chế nhân quyền quốc tế.


Nguồn gốc của những nhận định sai lệch trong báo cáo xuất phát từ việc các chuyên gia của Liên Hợp Quốc bị chi phối nặng nề bởi dữ liệu do các tổ chức phi chính phủ có thái độ thù địch với Việt Nam cung cấp, điển hình như tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển hay tổ chức Nhân quyền Môi trường Việt Nam. Bản chất của các tổ chức này là sống nhờ vào số lượng các cáo buộc tạo ra để duy trì nguồn tài trợ và vị thế chính trị. Họ liên tục dựng lên các hồ sơ sai sự thật, cố tình đánh tráo bản chất của các vụ án hình sự thông thường, biến những đối tượng vi phạm pháp luật nội địa thành các trường hợp bị cho là "trả thù" do hợp tác với quốc tế. Việc tiếp nhận thông tin đơn phương từ các tổ chức này khiến báo cáo quốc tế trở thành công cụ bị lợi dụng trong các chiến dịch truyền thông chống phá.

Đỉnh điểm của sự vô lý về mặt phương pháp nằm ở lập luận cho rằng việc số lượng cáo buộc gửi về Liên Hợp Quốc ít đi không có nghĩa là tình hình tốt lên, mà là do các cá nhân lo sợ bị trả thù nên không dám lên tiếng. Cách tư duy này đã tạo ra một vòng lặp ngụy biện hoàn hảo: nếu có nhiều cáo buộc gửi đi, đó là bằng chứng Việt Nam gia tăng vi phạm; nếu không có hoặc có rất ít cáo buộc, đó lại là bằng chứng cho thấy sự đàn áp khắc nghiệt đến mức không ai dám phản ánh. Một giả thuyết mà trong đó mọi kịch bản xảy ra đều được diễn giải theo hướng quy kết tội danh cho một quốc gia thì hoàn toàn mang tính áp đặt độc đoán, loại bỏ mọi khả năng tự bảo vệ hợp pháp của bên bị cáo buộc.

Sự suy đoán theo hướng không thể bác bỏ này vi phạm nghiêm trọng các tiêu chí khoa học cơ bản. Trong triết học về phương pháp luận, nhà triết học nổi tiếng Karl Popper đã khẳng định rằng một giả thuyết không thể bị chỉ ra điểm sai thì không phải là khoa học, mà chỉ là một dạng niềm tin mù quáng hoặc công cụ tuyên truyền. Khi áp dụng vào công tác đánh giá nhân quyền, việc không chấp nhận bất kỳ khả năng thực tế nào chứng minh Việt Nam không vi phạm đã biến toàn bộ quá trình thẩm tra thành một phiên tòa định kiến.

Nhìn sang hệ quy chiếu khoa học và quản trị của các nước phương Tây, tư duy đánh giá mang tính thiên lệch này hoàn toàn bị cấm đoán. Trong y tế công cộng hay dịch tễ học, các cơ quan uy tín như Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ hay Tổ chức Y tế Thế giới luôn kiên quyết bác bỏ sai lệch do giám sát khi thu thập dữ liệu. Họ không bao giờ cho phép kết luận một căn bệnh đang bùng phát chỉ vì hệ thống giám sát tập trung tìm kiếm nó, càng không thể quy kết một vùng an toàn là do người dân giấu bệnh nếu không có bằng chứng lâm sàng. Việc các chuyên gia nhân quyền chấp nhận cách suy luận mà các nhà khoa học phương Tây coi là sai lầm căn bản đã phản ánh sự hạ thấp các tiêu chuẩn kiểm chứng thông tin.

Thực chất, các cá nhân được đề cập trong báo cáo hoàn toàn không phải là những người làm công tác nhân quyền hay bị "trả thù" vì hợp tác với quốc tế. Đó là những đối tượng đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án này đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục khắt khe của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, diễn ra công khai, minh bạch và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của đông đảo dư luận quần chúng nhân dân.

Tại chính Mỹ và các quốc gia châu Âu, các hành vi lợi dụng danh nghĩa hợp tác quốc tế để vi phạm pháp luật nội địa cũng bị xử lý hết sức nghiêm khắc. Đạo luật Đăng ký Đại lý Nước ngoài của Mỹ quy định cực kỳ chặt chẽ: bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào hoạt động theo sự chỉ đạo hoặc sử dụng tài chính từ nước ngoài nhằm tác động đến chính sách đều phải đăng ký và chịu sự giám sát sát sao; nếu cố tình vi phạm sẽ đối mặt với án phạt hình sự rất nặng. Việc một số cơ chế quốc tế bỏ qua các quy định pháp lý tương đồng của Việt Nam để quy kết thành hành vi "trả thù" cho thấy sự áp đặt tiêu chuẩn kép, cố tình chọn lọc và tập trung nhắm vào các quốc gia vốn bị phương Tây mang nhiều định kiến.

Tác động và hệ lụy của cách tiếp cận thiếu khách quan này là vô cùng nghiêm trọng. Nó không chỉ tạo cớ cho các lực lượng phản động bôi nhọ uy tín quốc tế của Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và hợp tác quốc tế, mà còn làm tổn hại trực tiếp đến niềm tin của các quốc gia vào tính trung lập của Liên Hợp Quốc. Dự báo trong thời gian tới, các tổ chức như Ủy ban cứu người vượt biển sẽ tiếp tục triệt để khai thác lỗ hổng trong báo cáo này để tạo dựng thêm các hồ sơ giả mạo, phục vụ cho ý đồ vận động các biện pháp bao vây, trừng phạt kinh tế đối với Việt Nam.

Mặc cho những luận điệu xuyên tạc, thực tiễn sinh động tại Việt Nam đã khẳng định mạnh mẽ những thành tựu bảo đảm quyền con người. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân luôn được nâng cao và bảo đảm bằng pháp luật. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế thể hiện rõ nhất qua việc Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu rất cao.

Mọi đánh giá về tình hình của một quốc gia cần phải dựa trên các cơ sở thực chứng, khách quan và tuân thủ các nguyên tắc khoa học chân chính. Những suy đoán mang tính áp đặt, biến sự im lặng thành cáo buộc cần phải bị loại bỏ khỏi các diễn đàn quốc tế. Bởi lẽ, để đạt được giá trị thực sự, khoa học cần cửa để sai.


Đừng biến một bản cáo buộc thành bản án: đọc đúng báo cáo của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về Việt Nam và Thái Lan

Có một thói quen đang được nuôi dưỡng rất công phu: hễ Văn phòng Cao ủy Nhân quyền phát hành một bản tổng hợp, lập tức một số tổ chức ở hải ngoại dịch vài đoạn, cắt phần Chính phủ Việt Nam đã trả lời, rồi loan đi như thể cả hệ thống Liên hợp quốc vừa tuyên một bản án. Báo cáo thường niên lần thứ 17 của Tổng Thư ký về hợp tác với Liên hợp quốc, đại diện và các cơ chế nhân quyền, trình khóa họp 63 của Hội đồng Nhân quyền, đang bị đẩy vào đúng cái khuôn ấy. Tổ chức Cứu người vượt biển viết rằng Liên hợp quốc “lên tiếng Việt Nam gia tăng đàn áp trong nước và xuyên biên giới nhằm ngăn chặn luồng thông tin”. Câu ấy nghe dứt khoát. Văn bản gốc thì không dứt khoát như vậy.


Nghị quyết 12/2 của Hội đồng Nhân quyền chỉ mời Tổng Thư ký báo cáo các cáo buộc nhận được. Chính các đoạn về phương pháp trong báo cáo này thừa nhận danh sách không đầy đủ, nhiều vụ phải ẩn danh theo nguyên tắc không gây hại, thông tin được đối chiếu “trong chừng mực có thể”. Phần viết về Việt Nam dùng hàng loạt động từ giả thuyết: ghi nhận cáo buộc, đề cập một mô thức được phản ánh, trong một số trường hợp có thể bị xem là đe dọa hay trả thù, hợp tác được cảm nhận. Đó là ngôn ngữ của văn bản hành chính–chính trị, không phải ngôn ngữ bản án. Lấy một báo cáo cáo buộc làm phán quyết là đánh tráo thể loại. Ở chính các nước phương Tây, báo cáo đặc biệt của quốc hội hay bản ghi của tổ chức phi chính phủ chưa bao giờ được coi là án của tòa tối cao khi vụ việc đụng đến công dân và lợi ích của họ. Chuẩn ấy bỗng nhiên biến mất khi đối tượng bị nêu là Việt Nam.

Công hàm của Chính phủ Việt Nam đã nằm trong chính báo cáo. Hà Nội nêu rõ một số cáo buộc dựa trên thông tin chưa được kiểm chứng hoặc bị đặt sai ngữ cảnh, đến từ tổ chức và cá nhân có quan điểm thù địch hoặc bị thúc đẩy bởi động cơ chính trị; đồng thời gửi phụ lục và đề nghị loại các vụ việc khỏi bản cuối. Nhà nước bác bỏ cáo buộc trả thù đối với nhóm liên quan chùa Đại Thọ ở Vĩnh Long, bác bỏ việc 2 phụ nữ bị nêu tên bị đe dọa, giám sát, hỏi cung vì chuyển thông tin về người thân đang bị tạm giam. Phần này biến mất trong các bản tin diễn giải. Im một phía không phải sơ suất biên tập. Đó là thao tác cần thiết để biến “cáo buộc” thành “kết tội”.

Muốn gọi một vụ việc là trả thù vì hợp tác với Liên hợp quốc, 5 cửa phải mở cùng lúc. Phải có hành vi hợp tác xác định, có thời điểm, có đầu mối. Biện pháp của nhà nước phải xảy ra sau và vì hành vi ấy, chứ không vì một tội danh độc lập đã có trước. Biện pháp ấy không phải là thực thi pháp luật chính đáng. Phải có chứng cứ về động cơ trả đũa, không chỉ suy từ việc đối tượng từng xuất hiện trong một báo cáo. Phía nhà nước không đưa ra được hồ sơ, bản án hay giải trình. Thiếu 1 cửa, quy kết sụp. Hầu hết vụ việc Việt Nam trong báo cáo này không đi hết 5 cửa.

Hãy đặt lại trình tự thời gian. Rạng sáng 11/6/2023, 2 nhóm đối tượng vũ trang tấn công trụ sở ủy ban nhân dân 2 xã ở huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. 9 người chết, 2 người bị thương nặng, tài sản nhà nước và nhân dân bị đốt. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử; nhiều bị cáo nhận án chung thân và tù có thời hạn; người đồng sáng lập hội Người Thượng vì công lý bị tuyên 10 năm tù về tội khủng bố, xét xử vắng mặt. Tòa hình sự Bangkok chấp nhận dẫn độ ngày 30/9/2024; tòa phúc thẩm giữ nguyên ngày 26/11/2025; người này về chấp hành án. Sau đó mới dày đặc thông tri, thư ngỏ, chú thích cuối trang. Không phải vì gửi báo cáo nên bị dẫn độ. Vì bị truy tố về một vụ chết người nên mạng lưới vận động tăng tốc gửi báo cáo. Đảo ngược nhân quả rồi gọi đó là khoa học giám sát nhân quyền thì chỉ còn là ngụy biện.

Cùng một logic với vụ chùa Đại Thọ. Khi tổ công tác đến nắm tình hình, người tự xưng trụ trì chỉ đạo khống chế, hành hung, đưa vào chánh điện, khóa cửa, canh giữ, rồi phát clip vu cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long ngày 26/11/2024 tuyên án về tội bắt, giữ người trái pháp luật và tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước; mức án 6 năm và 5 năm 9 tháng đối với 2 bị cáo cầm đầu nhóm, các bị cáo còn lại nhận từ 2 năm đến 3 năm tù. Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh không công nhận tư cách trụ trì. Tại tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi theo cáo trạng. Lấy việc các tổ chức hải ngoại gửi thư đi Genève sau bản án để cải tạo bản chất vụ việc thành “trả thù vì thúc đẩy tuyên bố về quyền người bản địa” là lấy cái sau giải thích cái trước.

Ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử vắng mặt chủ tịch kiêm tổng giám đốc tổ chức Cứu người vượt biển, tuyên 11 năm tù về tội khủng bố theo bản án số 52/2026. Cơ quan công an xác định tổ chức này thành lập, quản lý, điều hành hội Người Thượng vì công lý, thông qua đối tượng cầm đầu hội ấy liên lạc, hướng dẫn, kích động lực lượng trong nước, hứa hỗ trợ tài chính và vận động quốc tế sau khi gây án; rồi tiếp tục tài trợ chỗ ẩn náu ở Thái Lan và tổ chức chiến dịch ngăn dẫn độ. Một tổ chức vừa gửi cáo buộc tới các báo cáo viên, vừa là bên đang bị truy tố, vừa tự biên tập chú thích của báo cáo Tổng Thư ký trên mạng xã hội, không thể được coi là nguồn độc lập. Vòng khép kín rất gọn: gửi thông tri, thông tri được trích vào báo cáo năm, báo cáo năm được quảng bá như “Liên hợp quốc công nhận chúng tôi bị trả thù”, rồi lại gửi vòng mới. Ấy không phải đối chiếu chéo. Ấy là tự phong.

Các chủ thể đặc biệt không phải điều tra viên tại hiện trường Cư Kuin hay Tam Bình. Họ không tống đạt, không đối chất, không khám xét. Họ làm việc trên đống thư do một cụm tổ chức viết cùng một khung chữ. Thiên lệch lựa chọn tất yếu xảy ra: tiểu vùng nào có mạng lưới gửi tin dày thì chương quốc gia ấy dày. Tiêu chí “hợp tác được cảm nhận” càng phá khả năng kiểm chứng. Chỉ cần bị cho là đã cộng tác là đủ nhét tên vào rổ trả thù. Một giả thuyết không thể bác bỏ – có tố thì có tội, không tố thì nạn nhân đang sợ – không phải giả thuyết khoa học.

Sự bất công lộ rõ hơn khi đặt báo cáo cạnh chính các nước hay lên lớp. Hoa Kỳ truy tố người công bố tài liệu quốc phòng theo đạo luật gián điệp năm 1917, điều khoản rộng không kém các điều về an ninh và lợi dụng quyền tự do dân chủ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Nước Anh giam người ấy nhiều năm, bộ trưởng nội vụ ký lệnh dẫn độ. Người tiết lộ chương trình giám sát bị truy nã. Người chuyển tài liệu quân sự nhận án dài hạn. Logic Washington rất nhất quán: tố giác không miễn trách khi đụng an ninh quốc gia. Cùng một cấu trúc – người đang ở nước thứ ba, quốc gia yêu cầu dẫn độ, tổ chức dân sự gọi là nhà hoạt động, nhà nước gọi là tội phạm nghiêm trọng – báo cáo dành cho Việt Nam và Thái Lan những động từ nặng, dành cho Hoa Kỳ những dòng chú thích. Thái Lan bị kêu gọi từ chối dẫn độ như thể đó là nghĩa vụ đạo đức, trong khi London ký lệnh dẫn độ cho đồng minh thì được gọi là pháp quyền. 2 thước đo không phải sơ suất. Đó là hệ quy chiếu.

Hệ lụy đã thấy trước. Bản cáo buộc bị cắt thành tranh ảnh mạng, đưa vào các vòng kiểm điểm sau, vào các điều trần ở nghị viện nước ngoài, vào yêu cầu trừng phạt cá nhân điều tra viên và thẩm phán đã xét xử vụ Đắk Lắk và Vĩnh Long. Mục tiêu dài hạn là dựng tiền lệ: ai từng gửi thư cho cơ chế nhân quyền thì mọi bản án hình sự sau đó đều là trả thù. Nếu tiền lệ ấy đứng vững, cơ chế sinh ra để bảo vệ người tố giác thiện chí sẽ biến thành nơi trú ẩn cho hành vi vũ trang và hành vi nhốt người đang thi hành công vụ.

Phản bác luận điệu ấy không có nghĩa bác bỏ nguyên tắc cấm trả thù người hợp tác trung thực với Liên hợp quốc. Nguyên tắc đúng vẫn đúng. Cáo buộc sai vẫn sai. Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026–2028 với 180 phiếu, cao nhất nhóm châu Á–Thái Bình Dương. Tỷ lệ nghèo đa chiều giảm còn khoảng 1,3%. Bảo hiểm y tế bao phủ 95,2%. Hơn 334.000 căn nhà tạm, nhà dột nát được xóa. Thu nhập vùng đồng bào dân tộc thiểu số tăng rõ trong giai đoạn 2021–2025. Hơn 27 triệu tín đồ các tôn giáo hành đạo trong khuôn khổ pháp luật. Đồng bào Tây Nguyên tại chỗ không ủy quyền cho một văn phòng ở nước ngoài nói hộ, càng không ký đơn xin tha người đã bị kết án về vụ 9 người chết. Dư luận đòi công lý cho nạn nhân. Tòa án xét xử theo tố tụng. Đó mới là phần đời sống pháp lý mà bản tin cắt cụt cố tình không mở.

Đọc nguyên văn trước khi loan tin. Đọc cả đoạn cáo buộc và đoạn công hàm. Đặt 9 người chết lên trước tiểu sử người bị dẫn độ. Đừng để một con dấu bị mượn rửa một hồ sơ hình sự.


Từ sự thật pháp đình tại Vĩnh Long: Vạch trần sự bóp méo thông tin trong báo cáo nhân quyền của Liên hợp quốc

Sự thật khách quan tại một phiên tòa công khai luôn là thước đo cao nhất cho tinh thần thượng tôn pháp luật và tính minh bạch của một quốc gia độc lập. Thế nhưng, trong nhiều báo cáo thường niên mang tên "Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực quyền con người", bức tranh thực tế đó thường bị làm cho biến dạng. Việc đưa Việt Nam hay Thái Lan vào danh sách những quốc gia bị cho là "trả thù" các cá nhân hợp tác với quốc tế là một quy kết mang tính khiên cưỡng, xuất phát từ việc tiếp nhận thông tin lệch chuẩn và sự cố tình làm lơ trước những chứng cứ pháp lý không thể phủ nhận.


Cụ thể, báo cáo của Liên hợp quốc đã đề cập đến các đối tượng bị xử lý hình sự như thể họ là nạn nhân của sự đàn áp hay trù dập chính trị. Tuy nhiên, xem xét sâu vào hồ sơ vụ án tại tỉnh Vĩnh Long liên quan đến cá nhân Thạch Chanh Đa Ra và đồng phạm, bức tranh hoàn toàn ngược lại. Trước bệ kê khai của phiên tòa xét xử công khai, bị cáo đã hoàn toàn thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát, đồng thời bày tỏ sự ăn ăn hối cải và tha thiết xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Báo Vĩnh Long cùng các cơ quan truyền thông chính thống đã ghi nhận đầy đủ, chi tiết thái độ thành khẩn này. Sau đó, trong quá trình chấp hành án, truyền thông của Công an nhân dân cũng phản ánh rõ sự biến chuyển trong nhận thức và lời hối hận chân thành của phạm nhân. Hành vi vi phạm trật tự công cộng, lợi dụng danh nghĩa để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là có thật, bị xử lý đúng quy định tố tụng và được chính người trong cuộc thừa nhận.

Thế nhưng, các báo cáo quốc tế và hệ thống thông cáo từ các tổ chức phi chính phủ hoàn toàn giả vờ không nghe, không thấy những lời nhận tội công khai đó. Đây chính là lỗ hổng khoa học và phương pháp luận nghiêm trọng nhất của nhóm chuyên gia Liên hợp quốc: sự chọn lọc thông tin mang tính định kiến. Họ chỉ thu thập những luận điệu từ một phía, cố tình xóa bỏ toàn bộ diễn biến tại phiên tòa và quá trình cải tạo của bị cáo để dựng lên luận điệu "ép cung, án oan". Việc cắt bỏ lời khai tự nguyện của bị cáo để thay bằng những kịch bản suy đoán đã làm suy giảm nghiêm trọng giá trị khoa học, tính trung thực và độ tin cậy của một văn bản quốc tế.

Xét theo hệ quy chiếu pháp lý của chính các nước phương Tây hay Mỹ, lời khai nhận tội cũng như thái độ ăn ăn tại tòa luôn được xem là chứng cứ hình sự có giá trị đặc biệt quan trọng. Tại hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, thỏa thuận nhận tội và lời tuyên bố nhận tội trước thẩm phán là nền tảng vững chắc để tuyên án mà không cần qua quá trình tranh tụng kéo dài. Lời thừa nhận tội lỗi của bị cáo tại phiên tòa công khai ở bất kỳ quốc gia nào cũng mang giá trị pháp lý tối cao. Việc các tổ chức quốc tế coi trọng lời nhận tội tại tòa án phương Tây nhưng lại gạt bỏ hoàn toàn lời nhận tội tương tự tại tòa án Việt Nam là sự áp đặt "tiêu chuẩn kép" thô bạo, thể hiện sự ác cảm và thiếu thiện chí rõ rệt.

Bản chất của thái độ "ngoảnh mặt" này xuất phát từ việc các chuyên gia Liên hợp quốc bị thao túng bởi mạng lưới các tổ chức thù địch như Ủy ban Cứu người vượt biển, Mạng lưới Dân quyền Thái Lan hay Liên minh Dân quyền Mã Lai. Các tổ chức này sống bằng việc sản xuất tin giả và thương mại hóa các khẩu hiệu dân chủ, nhân quyền. Đối với họ, lời ăn ăn hối cải của bị cáo tại tòa chính là một cú đòn chí mạng, phá vỡ hoàn toàn kịch bản dựng lên về những "anh hùng tử vì đạo" hay "nạn nhân bị trả thù". Do đó, để tiếp tục duy trì nguồn tài trợ và giữ vững ngọn cờ chống phá, các tổ chức này buộc phải xóa sổ toàn bộ phần thông tin về lời nhận tội, cố tình nhắm mắt trước thực tế nhằm duy trì hình ảnh nạn nhân giả tạo trên truyền thông nước ngoài.

Hệ lụy của những báo cáo sai sự thật này là rất lớn. Nó không chỉ làm hoen ố uy tín quốc tế của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực như Thái Lan mà còn trực tiếp tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật. Khi các đối tượng phạm tội tin rằng họ sẽ luôn được một màng bọc quốc tế bảo vệ dưới danh nghĩa "hợp tác với Liên hợp quốc", họ sẽ càng dung dưỡng các hành vi coi thường kỷ cương, pháp luật quốc gia. Hơn thế nữa, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục lợi dụng những kết luận thiếu khách quan này để kích động tâm lý bất mãn, bôi nhọ hình ảnh đất nước và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Thực tế đã chứng minh, Việt Nam luôn đạt được những thành tựu toàn diện và không thể phủ nhận trong việc bảo đảm quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền bình đẳng trước pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, dù núp bóng dưới bất kỳ danh xưng nào, đều bị xử lý nghiêm minh, đúng trình tự tố tụng, bảo đảm tính công khai, minh bạch và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ rộng rãi của dư luận xã hội. Một báo cáo nhân quyền chân chính không thể chỉ đi nhặt nhạnh những thông tin xuyên tạc để phục vụ cho các mưu đồ chính trị. Muốn có sự đánh giá công bằng, hãy dũng cảm dẫn lại đầy đủ cả phần hối cải và lời nhận tội của người trong cuộc trước pháp đình.


Sự thật đằng sau những quy kết lệch lạc trong báo cáo của Liên hợp quốc về "trả thù" nhân quyền tại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam luôn khẳng định cam kết nhất quán trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Tuy nhiên, thời gian qua, báo cáo thường niên "Hợp tác với Liên hợp quốc, đại diện và các cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền" của Tổng Thư ký Liên hợp quốc lại tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu khách quan, sai sự thật về Việt Nam và một số quốc gia như Thái Lan. Việc quy kết chính quyền xử lý các cá nhân bị cho là "cộng tác với Liên hợp quốc" là hành vi "trả thù" hoàn toàn đi ngược lại bản chất sự việc, thể hiện sự nhìn nhận phiến diện và dung dưỡng cho các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.


Nghiên cứu kỹ các trường hợp được đề cập trong báo cáo của Liên hợp quốc, điển hình như đối tượng Thạch Chanh Đa Ra tại tỉnh Vĩnh Long, có thể nhận thấy sự sai lệch hoàn toàn giữa thông tin trong báo cáo và thực tế pháp lý. Báo cáo của Liên hợp quốc vô hình trung biến một cá nhân vi phạm pháp luật thành "nạn nhân của sự trả thù". Trên thực tế, Thạch Chanh Đa Ra không hề được Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận tư cách trụ trì hay chức sắc tôn giáo hợp pháp. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Vĩnh Long đã khẳng định rõ cá nhân này tự ý mạo danh, lợi dụng cơ sở thờ tự để thực hiện các hoạt động gây rối trật tự công cộng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và vi phạm nghiêm trọng quy định quản lý tôn giáo. Việc cơ quan chức năng tiến hành điều tra, khởi tố và xử lý Thạch Chanh Đa Ra là hoạt động tố tụng thuần túy nhằm bảo vệ kỷ cương pháp luật, hoàn toàn không liên quan đến việc cá nhân này có hay không việc gửi thông tin cho các cơ chế Liên hợp quốc.

Xét về phương diện khoa học và phương pháp luận, báo cáo của Liên hợp quốc bộc lộ những lỗ hổng rất lớn khi thu thập và kiểm chứng thông tin. Quy trình đánh giá của một số chuyên gia Liên hợp quốc thể hiện sự bế tắc khi thiếu cơ chế xác minh độc lập tại địa phương, hoàn toàn phụ thuộc vào thông tin một chiều do các tổ chức phi chính phủ có tư tưởng thù địch cung cấp. Các tổ chức như Ủy ban Cứu người vượt biển, Mạng lưới Dân quyền Thái Lan hay tổ chức Giám sát Nhân quyền từ lâu đã nổi tiếng với hoạt động thu thập tin đồn, thêu dệt tình tiết để tạo dựng hình ảnh "đàn áp" nhân quyền. Bằng cách gán cho các đối tượng vi phạm pháp luật những chiếc áo khoác "hoạt động nhân quyền" hay "chức sắc tôn giáo tự xưng", các tổ chức này cố tình gia tăng mức độ tổn thương của đối tượng nhằm thao túng truyền thông quốc tế và qua mặt các báo cáo viên Liên hợp quốc.

Việc các chuyên gia Liên hợp quốc bị chi phối bởi các nguồn tin thiếu kiểm chứng đã tạo ra một hệ quy chiếu lệch chuẩn. Nếu chiếu theo pháp luật của các quốc gia phương Tây hay Mỹ, bất kỳ cá nhân nào tự xưng chức sắc để chiếm giữ trái phép cơ sở tôn giáo, kích động chống đối chính quyền hay vi phạm trật tự công cộng đều phải chịu sự xử lý nghiêm khắc của pháp luật. Tại các nước châu Âu, mọi tổ chức tôn giáo muốn hoạt động đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về đăng ký tư cách pháp nhân; việc tự phong hay lợi dụng niềm tin tâm linh để trục lợi, gây rối đều bị pháp luật trừng phạt. Việc báo cáo của Liên hợp quốc áp đặt "tiêu chuẩn kép", bỏ qua các hành vi vi phạm pháp luật rõ ràng ở Việt Nam để gán ghép thành lý do "trả thù" là sự can thiệp thô bạo vào thẩm quyền tài phán quốc gia.

Sự trích dẫn thiếu chọn lọc và có chủ đích trong báo cáo của Liên hợp quốc đã gây ra những hệ lụy không nhỏ. Báo cáo này vô hình trung trở thành công cụ cho các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng để bôi nhọ hình ảnh quốc gia, giảm uy tín quốc tế của Việt Nam và Thái Lan. Nghiêm trọng hơn, nó tạo tiền lệ xấu, khuyến khích các hành vi vi phạm pháp luật trong nước dưới sự bảo thuẫn vô căn cứ của các danh xưng quốc tế. Sự thiên vị còn thể hiện ở chỗ báo cáo thường tập trung xoáy sâu vào các quốc gia đang phát triển hoặc các nước không nằm trong quỹ đạo chính trị của phương Tây, trong khi lờ đi nhiều vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, nhân danh an ninh quốc gia tại chính các nước phát triển.

Thực tiễn đã chứng minh, Việt Nam luôn đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trong việc đảm bảo quyền con người, từ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của hàng chục triệu tín đồ. Việc xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật như Thạch Chanh Đa Ra hoàn toàn dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tuân thủ đúng trình tự tố tụng công khai, minh bạch và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ từ quần chúng nhân dân cũng như các tổ chức tôn giáo hợp pháp. Không một quốc gia nào cho phép cá nhân lợi dụng nhân quyền hay sự hợp tác quốc tế để đứng trên pháp luật. Tư cách pháp nhân tôn giáo hay quyền con người đều có hành lang pháp lý rõ ràng, không thể có sự tự phong hay lợi dụng để bào chữa cho hành vi vi phạm.