Monday, September 14, 2026

Từ “cầu nối văn hóa” đến “đặc vụ”: Chiếc kính méo đang được dùng để xuyên tạc Nghị quyết 23

Có một cách rất đơn giản để nhận diện sự méo mó trong tranh luận về Nghị quyết số 23-NQ/TW: hãy thử đặt câu hỏi, một người Việt sống ở nước ngoài mặc áo dài trong ngày hội văn hóa, dạy con tiếng Việt, giới thiệu món phở với bạn bè, tổ chức chương trình nghệ thuật, kết nối một trường đại học nước sở tại với Việt Nam hay giúp doanh nghiệp hai nước tìm hiểu thị trường thì người đó đang quảng bá văn hóa quê hương hay đang làm “đặc vụ ảnh hưởng”? Câu trả lời tưởng như hiển nhiên. Thế nhưng trong một bộ phận nội dung xuất hiện trên mạng xã hội và một số trang thông tin chính trị ở nước ngoài sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, ranh giới rất rõ giữa giao lưu văn hóa, ngoại giao nhân dân với hoạt động bí mật lại bị cố tình làm cho nhập nhòe.


Nghị quyết 23 ngày 2/8/2026 xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới. Một nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là khuyến khích cộng đồng giữ gìn, lan tỏa bản sắc dân tộc, phát huy vai trò “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”. Văn bản cũng khuyến khích người Việt ở nước ngoài chia sẻ thông tin khách quan, chính xác về tình hình đất nước, quảng bá hình ảnh Việt Nam và phát huy thế mạnh của các nền tảng số. Đây là nội dung được công khai trong toàn văn Nghị quyết chứ không phải một chương trình bí mật. 

Thế nhưng chính cụm từ “đại sứ văn hóa” lại trở thành một trong những điểm bị diễn giải theo hướng an ninh hóa. Một số bài viết phản đối Nghị quyết 23 đặt việc quảng bá hình ảnh đất nước, tham gia hội đoàn, thông tin về Việt Nam và hỗ trợ cộng đồng vào cùng một chuỗi suy luận với “ảnh hưởng nước ngoài”, “đại diện cho chủ thể nước ngoài”, thậm chí “đặc công nằm vùng”. Việt Tân đăng bài “Nghị quyết 23 và những thủ đoạn ẩn giấu từ bên trong”, diễn giải hàng loạt hoạt động về hội đoàn, văn hóa, giáo dục và truyền thông dưới giả thuyết về một chiến lược thâm nhập cộng đồng. Chiến dịch mang tên “Đẩy Lùi NQ23” của Mạch Sống còn đi xa hơn khi ghép những hoạt động công khai của Nghị quyết với luật đăng ký đại diện cho chủ thể nước ngoài của Hoa Kỳ rồi đặt chúng trong câu chuyện về “đường dây đặc công nằm vùng”.

Vấn đề ở đây không phải các tác giả có quyền nghi ngờ hay phê bình Nghị quyết hay không. Họ hoàn toàn có quyền nêu quan điểm. Vấn đề nằm ở bước nhảy logic từ hoạt động văn hóa công khai sang hoạt động ảnh hưởng chính trị, rồi từ ảnh hưởng chính trị sang hoạt động bí mật, cuối cùng tạo cho người đọc cảm giác rằng đó là hoạt động tình báo. Giữa những khái niệm này tồn tại những ranh giới pháp lý rất lớn nhưng lại thường bị xóa đi trong các bài viết mang tính vận động.

Ngoại giao văn hóa là việc sử dụng văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, di sản, giáo dục và giao lưu con người để gia tăng hiểu biết giữa các dân tộc. Ngoại giao công chúng là hoạt động một quốc gia giao tiếp với công chúng nước ngoài một cách công khai nhằm giới thiệu đất nước, chính sách và giá trị của mình. Ngoại giao cộng đồng ở nước ngoài dựa vào chính những người có nguồn gốc từ quốc gia đó để tạo cầu nối về văn hóa, tri thức, thương mại và con người. Còn hoạt động ảnh hưởng bí mật lại có bản chất khác: yếu tố che giấu, lừa dối, cưỡng ép hoặc hoạt động theo sự điều khiển không minh bạch mới làm phát sinh những vấn đề an ninh và pháp lý nghiêm trọng.

Đánh đồng bốn hiện tượng ấy chỉ vì chúng cùng có chữ “ảnh hưởng” chẳng khác nào nói rằng một chương trình biểu diễn nghệ thuật và một hoạt động tình báo giống nhau vì cả hai đều có thể làm người khác thay đổi nhận thức.

Thực tiễn của cộng đồng người Việt càng cho thấy sự khiên cưỡng của cách suy luận ấy. Tại Hồng Công, những người Việt và trẻ em gốc Việt tham gia các tiết mục nghệ thuật, giới thiệu văn hóa Việt Nam trong những sự kiện quốc tế. Người tham gia chia sẻ mong muốn đóng góp phần nhỏ bé để quảng bá hình ảnh Việt Nam. (Vietnam+ (VietnamPlus)⁠) Tại nhiều quốc gia, lớp tiếng Việt, ngày hội văn hóa, Tết cộng đồng, biểu diễn nghệ thuật, giới thiệu ẩm thực Việt, hoạt động của hội sinh viên, trí thức và doanh nhân đã trở thành những chiếc cầu nối tự nhiên giữa cộng đồng với xã hội sở tại.

Đó chính là sức mạnh mềm được tạo nên từ đời sống thường ngày. Một bát phở được bạn bè quốc tế yêu thích, một tà áo dài xuất hiện trong lễ hội đa văn hóa, một lớp trẻ em nói được tiếng Việt, một nhà khoa học gốc Việt kết nối hai trường đại học hay một doanh nhân mở thêm tuyến hợp tác thương mại đều tạo ra những hiểu biết tích cực về Việt Nam mà không cần bất kỳ hoạt động cưỡng ép nào.

Nghị quyết 23 nhìn nhận chính nguồn lực ấy. Các ý kiến của trí thức Việt Nam ở nước ngoài sau khi Nghị quyết được ban hành cũng nhấn mạnh vai trò kiều bào như cầu nối tri thức, công nghệ và sức mạnh mềm. Tại Hoa Kỳ, một giảng viên phụ trách chương trình tiếng Việt của Đại học Columbia đánh giá Nghị quyết thể hiện sự chuyển biến trong cách nhìn nhận vị trí và đóng góp của cộng đồng. (Báo Tin tức và Dân tộc - TTXVN⁠) Trại hè Việt Nam năm 2025 từng quy tụ 110 thanh niên, sinh viên kiều bào từ 31 quốc gia và vùng lãnh thổ; những hoạt động tương tự giúp thế hệ sinh ra ở nước ngoài tiếp xúc với tiếng Việt, lịch sử, văn hóa và con người quê hương. (Vietnam+ (VietnamPlus)⁠)

Nếu cứ quảng bá quê hương là “hoạt động ảnh hưởng”, thế giới có lẽ phải viết lại toàn bộ khái niệm ngoại giao văn hóa.

Ireland là ví dụ rất rõ. Chính phủ nước này ban hành Chiến lược cộng đồng Ireland ở nước ngoài giai đoạn 2026–2030 sau một quá trình tham vấn quy mô lớn. Chính sách đặt văn hóa, âm nhạc, bản sắc, thể thao và việc quảng bá hình ảnh Ireland hiện đại tới công chúng toàn cầu vào những nội dung trọng tâm. Chính phủ Ireland nói công khai rằng họ muốn hợp tác với cộng đồng ở nước ngoài để thúc đẩy văn hóa và tăng cường các kết nối xã hội, văn hóa, kinh tế với quê hương. 

Không chỉ kêu gọi tinh thần. Ireland còn bỏ ngân sách nhà nước để hỗ trợ hội đoàn ở nước ngoài. Chương trình hỗ trợ người Ireland di cư giai đoạn 2026–2027 được phân bổ 17,5 triệu euro. Từ khi hình thành năm 2004, chương trình đã hỗ trợ hơn 900 tổ chức tại 51 quốc gia với tổng kinh phí hơn 265 triệu euro. Nguồn tiền được sử dụng cho cả phúc lợi lẫn các nhóm tổ chức văn hóa, ngôn ngữ, di sản và thể thao. 

Ireland còn công khai coi văn hóa là một thế mạnh quốc gia trên trường quốc tế. Bộ Ngoại giao nước này xác định ảnh hưởng toàn cầu của văn hóa Ireland là một lợi thế đặc biệt, là phương tiện để tiếp cận công chúng thế giới và kết nối cộng đồng Ireland toàn cầu. (Chính Phủ Ireland⁠) Nếu áp dụng chiếc thước đang được một số người sử dụng đối với Nghị quyết 23, phải chăng hàng nghìn người Ireland quảng bá âm nhạc, văn hóa, thể thao và bản sắc quê hương cũng đều trở thành “đặc vụ ảnh hưởng”? Rõ ràng cách suy luận đó không đứng vững.

Hàn Quốc còn là một đối chiếu đáng chú ý hơn. Chính phủ Hàn Quốc có cơ quan chuyên trách về người Hàn ở nước ngoài, hỗ trợ khoảng bảy triệu người Hàn trên thế giới, thúc đẩy giáo dục tiếng Hàn, văn hóa và căn tính cho thế hệ tiếp nối. Bộ Ngoại giao Hàn Quốc từng công khai kêu gọi các chính trị gia gốc Hàn ở nước ngoài tiếp tục đóng vai trò cầu nối giữa cộng đồng người Hàn, quê hương và quốc gia nơi họ cư trú. Diễn đàn các chính trị gia người Hàn toàn cầu được tổ chức từ năm 2007, có sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác với người Hàn ở nước ngoài; nội dung thảo luận thậm chí bao gồm cả việc tăng cường ảnh hưởng chính trị của cộng đồng. 

Cơ quan phụ trách người Hàn ở nước ngoài còn đặc biệt coi việc truyền dạy tiếng Hàn và văn hóa cho thế hệ thứ hai, thứ ba là phương tiện duy trì căn tính, kết nối với quê hương và góp phần mở rộng ảnh hưởng văn hóa của Hàn Quốc. Không ai nghiêm túc có thể vì vậy kết luận một em nhỏ học tiếng Hàn ở Hoa Kỳ đang được đào tạo để trở thành “đặc vụ”.

Ấn Độ cũng xây dựng một hệ thống gắn kết cộng đồng ở nước ngoài quy mô lớn. Bộ Ngoại giao Ấn Độ tổ chức Ngày người Ấn ở nước ngoài từ năm 2003, đưa trí thức, kinh nghiệm và kỹ năng của cộng đồng toàn cầu lên một diễn đàn chung để kết nối với phát triển đất nước. Đến nay đã có 18 kỳ được tổ chức. Ấn Độ còn triển khai các chương trình tìm hiểu quê hương, học bổng cho con em cộng đồng, cơ chế quốc tịch đặc biệt và nhiều mạng lưới trí thức, doanh nhân.

Philippines năm 2026 thậm chí còn đưa ra một ví dụ trực diện hơn. Hội nghị cộng đồng Philippines ở nước ngoài do cơ quan thuộc Văn phòng Tổng thống tổ chức xác định những người Philippines định cư ở nước ngoài là đối tác chiến lược có kiến thức, mạng lưới và khả năng làm cầu nối văn hóa. Chương trình có hẳn phiên thảo luận về bảo tồn văn hóa và ngoại giao giáo dục, nghiên cứu cách cộng đồng truyền di sản Philippines qua các thế hệ và đóng vai trò đại diện văn hóa ở nước ngoài. Đáng chú ý, chương trình của Philippines không chỉ nói đến văn hóa mà còn công khai thảo luận vai trò của cộng đồng trong đầu tư, phát triển kinh tế và tác động chính sách. (Summit CFO⁠)

Những đối chiếu đó làm lộ rõ điểm yếu căn bản của luận điệu cho rằng việc Nghị quyết 23 khuyến khích kiều bào làm “đại sứ văn hóa” tự thân là bằng chứng của một chiến lược ảnh hưởng bí mật. Nếu một tiêu chuẩn chỉ được dùng để kết tội Việt Nam nhưng không thể áp dụng nhất quán cho Ireland, Hàn Quốc, Ấn Độ hay Philippines, vấn đề nằm ở tiêu chuẩn đánh giá chứ không nằm ở hoạt động văn hóa.

Thủ pháp đáng lưu ý ở đây có thể gọi là “an ninh hóa văn hóa”. Một hoạt động vốn thuộc đời sống xã hội được đưa vào trường từ vựng an ninh: “mạng lưới”, “thâm nhập”, “đặc vụ”, “nằm vùng”, “ảnh hưởng nước ngoài”. Sau khi chiếc khung ấy được dựng lên, mọi hành vi bình thường đều có thể bị diễn giải lại. Một lớp tiếng Việt trở thành nơi “tác động thế hệ trẻ”; một hội doanh nhân trở thành “mạng lưới kinh tế”; một ngôi chùa trở thành “bình phong”; một chương trình văn nghệ trở thành “tuyên truyền”; một người giới thiệu Việt Nam với bạn bè sở tại trở thành “đại diện ảnh hưởng”.

Đây chính là cách một giả thuyết tự nuôi sống nó: bất cứ bằng chứng nào cũng được diễn giải để phù hợp với kết luận có sẵn.

Nhưng cần phản bác vấn đề này bằng pháp luật chứ không bằng cảm tính. Hoa Kỳ có luật yêu cầu đăng ký đối với một số hoạt động được thực hiện cho chủ thể nước ngoài. Luật này không quy định rằng bất cứ người nào quảng bá văn hóa quê hương đều phải đăng ký. Cơ quan tư pháp Hoa Kỳ xác định nghĩa vụ đăng ký phụ thuộc vào mối quan hệ cụ thể giữa người hoạt động với chủ thể nước ngoài và bản chất hoạt động mà họ thực hiện. Hệ thống này còn có những trường hợp miễn trừ, trong đó có một số hoạt động tôn giáo chân chính, học thuật, khoa học và nghệ thuật.

Nói cách khác, pháp luật quan tâm đến ai chỉ đạo ai, làm việc gì, vì mục đích gì và trong quan hệ pháp lý nào, chứ không xử lý con người chỉ vì họ yêu văn hóa quê hương.

Đây cũng là ranh giới mà công tác triển khai Nghị quyết 23 phải đặc biệt tôn trọng. Nếu một cá nhân nhận nhiệm vụ đại diện cho một chủ thể nước ngoài để vận động cơ quan chính quyền nước sở tại và pháp luật yêu cầu đăng ký, người đó phải thực hiện nghĩa vụ đăng ký. Nếu một tổ chức nhận tài trợ, pháp luật nước sở tại yêu cầu công khai thì phải công khai. Không có lý do gì để né tránh những yêu cầu ấy. Chính Nghị quyết 23 xác định công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật và điều kiện của nước sở tại.

Nhưng điều ngược lại cũng phải được tôn trọng: không thể lấy luật điều chỉnh hoạt động đại diện, vận động chính trị hay ảnh hưởng nước ngoài rồi phủ trùm nó lên toàn bộ sinh hoạt văn hóa của hàng triệu con người.

Càng không thể từ việc một cá nhân hoặc tổ chức bị một nhóm vận động gửi đơn đề nghị xem xét mà tuyên truyền như thể cơ quan tư pháp đã kết luận họ là “đặc vụ”. Đơn tố cáo là đơn tố cáo; điều tra là điều tra; kết luận của cơ quan có thẩm quyền là kết luận. Trộn ba cấp độ ấy vào nhau không phải phản biện pháp lý mà là tạo định kiến bằng ngôn ngữ pháp lý.

Cũng cần nhìn thẳng vào một tầng sâu hơn của cuộc tranh luận. Sau nhiều thập niên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không còn là một khối đồng nhất về lịch sử, thế hệ hay quan điểm chính trị. Bên cạnh những người rời Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh là hàng triệu người đi học, lao động, kinh doanh, kết hôn, nghiên cứu và định cư trong các giai đoạn sau này. Một thế hệ sinh ra ở Paris, Berlin, Seoul, Sydney, Toronto hay California có thể đồng thời yêu đất nước họ mang quốc tịch và yêu quê hương của cha mẹ, ông bà. Hai tình cảm ấy không đối lập.

Chính sự thay đổi cơ cấu cộng đồng khiến cuộc cạnh tranh về quyền “đại diện cho người Việt hải ngoại” trở nên đáng chú ý. Khi một thanh niên gốc Việt chủ động học tiếng Việt, về thăm quê, tham gia Tết cộng đồng hay hợp tác với một trường đại học trong nước, điều đó có thể không phù hợp với cách nhìn của những tổ chức vẫn muốn duy trì cộng đồng trong những đường phân chia chính trị của nửa thế kỷ trước. Nghị quyết 23, với trọng tâm dành cho thế hệ trẻ, văn hóa, tri thức và kết nối, vì vậy dễ trở thành đối tượng bị công kích.

Tuy nhiên, từ thực tế cạnh tranh ảnh hưởng cộng đồng không nên suy diễn rằng mọi người phê bình Nghị quyết đều có động cơ xấu. Có những câu hỏi hoàn toàn chính đáng về minh bạch tài trợ, bảo vệ dữ liệu, quyền tự chủ hội đoàn hay giới hạn giữa truyền thông cộng đồng và vận động chính trị. Chính những câu hỏi ấy cần được trả lời công khai. Điều đáng phê phán là khi câu hỏi bị thay bằng bản án có sẵn, khi giả thuyết được trình bày như sự thật, khi một người bị gọi là “đặc vụ” chỉ vì quan hệ với quê hương hoặc tham gia hoạt động văn hóa.

Nhìn lại hơn hai thập niên kể từ Nghị quyết 36 đến Nghị quyết 23, chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã chuyển dần từ tư duy chủ yếu vận động, hỗ trợ sang coi cộng đồng là đối tác đồng hành. Chính sách quốc tịch, nhà ở, đầu tư, bảo hộ công dân, dạy tiếng Việt, hoạt động văn hóa, kết nối doanh nhân, trí thức và thanh niên từng bước được mở rộng. Quy mô cộng đồng hiện vượt 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nghị quyết 23 tiếp tục đặt mục tiêu để cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập sâu rộng, giữ bản sắc, phát triển ổn định và đóng góp theo khả năng của mình. 

Tinh thần đáng chú ý ở đây là gắn bó với Việt Nam không đối lập với hội nhập vào nước sở tại. Một người Việt thành đạt ở Pháp làm cầu nối công nghệ Việt Nam–Pháp không vì thế kém trung thành với nước Pháp. Một doanh nhân gốc Việt tại Hoa Kỳ giúp doanh nghiệp hai nước gặp nhau không tự động trở thành người đại diện chính trị cho Việt Nam. Một đứa trẻ gốc Việt tại Australia biết nói tiếng Việt không làm giảm căn tính Australia của em. Chính sách diaspora hiện đại của Ireland, Hàn Quốc, Ấn Độ và Philippines đều được xây dựng trên thực tế đa căn tính ấy.

Bởi vậy, điều cộng đồng cần cảnh giác không phải là việc tồn tại những ý kiến trái chiều về Nghị quyết 23. Tranh luận là bình thường. Điều cần cảnh giác là sự thay thế chứng cứ bằng nhãn chính trị.

Khi đọc một bài nói rằng người quảng bá văn hóa Việt Nam là “đặc vụ ảnh hưởng”, hãy hỏi: hoạt động cụ thể là gì? Ai giao nhiệm vụ? Có quan hệ chỉ đạo nào được chứng minh không? Có hoạt động vận động chính trị thuộc diện phải đăng ký không? Cơ quan chức năng nước sở tại đã kết luận chưa?

Nếu không trả lời được những câu hỏi ấy, thì từ “đặc vụ” chỉ là một nhãn được gắn lên con người.

Không nên để chiếc áo dài trở thành “bằng chứng thâm nhập”, lớp tiếng Việt thành “cơ sở gây ảnh hưởng”, ngôi chùa thành “bình phong” hay một người yêu quê hương thành “đặc vụ” chỉ bằng vài bước suy diễn trên mạng xã hội. Làm như vậy không bảo vệ tự do của cộng đồng; trái lại, nó thu hẹp chính quyền tự do lựa chọn căn tính, văn hóa và mối liên hệ quê hương của mỗi con người.

Nghị quyết 23 hoàn toàn có thể và cần được giám sát bằng những tiêu chuẩn nghiêm túc: minh bạch, tự nguyện, quyền tự chủ của hội đoàn, bảo vệ dữ liệu và tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nhưng cũng chính những tiêu chuẩn ấy phải được áp dụng cho người phê bình Nghị quyết: cáo buộc phải có chứng cứ, khái niệm pháp lý phải được dùng đúng và không ai nên bị kết tội bằng liên hệ.

Đó mới là cách tranh luận phù hợp với tinh thần pháp quyền và quyền con người.

Và đó cũng là câu trả lời rõ nhất cho câu hỏi “đại sứ văn hóa” hay “đặc vụ ảnh hưởng”: một người giới thiệu tiếng Việt, văn hóa Việt, nghệ thuật Việt, tri thức Việt và kết nối con người với con người bằng những hoạt động công khai, tự nguyện, hợp pháp trước hết đang thực hiện quyền văn hóa và góp phần vào giao lưu nhân dân. Chỉ khi có chứng cứ về một hành vi khác thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thì mới có cơ sở gọi tên hành vi ấy.

Không thể dùng định kiến để điền vào khoảng trống của chứng cứ. Càng không thể biến văn hóa thành tình báo chỉ bằng cách đổi tên nó.

No comments:

Post a Comment