Monday, September 14, 2026

Từ “nòng cốt” đến “cài người”: ai đang bẻ cong ngôn ngữ Nghị quyết 23?

Có những thông tin sai lệch không được tạo ra bằng cách bịa thêm một câu vào văn bản, mà bằng thủ thuật tinh vi hơn: cắt một cụm từ khỏi ngữ cảnh, gắn cho nó một trường nghĩa mới rồi lặp lại đủ nhiều để người đọc tưởng rằng đó chính là nội dung nguyên bản. Tranh luận quanh Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đang xuất hiện kiểu đánh tráo như vậy. Cụm từ “phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt”, vốn thuộc ngôn ngữ quản lý cộng đồng hết sức thông thường, qua một số bài viết trên mạng đã lần lượt bị biến thành “cài người”, “nằm vùng”, thậm chí “đặc công”, “đặc vụ”. Một sự chuyển nghĩa từ hành chính sang tình báo đã được thực hiện mà gần như không có chứng cứ tương ứng.



Muốn kiểm chứng, trước hết phải trở lại văn bản gốc. Nghị quyết 23 yêu cầu tiếp tục mở rộng, củng cố tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các hội đoàn, mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng “đoàn kết, tự chủ”; tăng cường kết nối với nước sở tại và trong nước; sau đó mới đặt vấn đề “phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ nòng cốt, nhất là thế hệ trẻ trong các hội đoàn”. Cùng mạch nội dung ấy là hỗ trợ cộng đồng ổn định cuộc sống, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của kiều bào và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật nước sở tại.

Chỉ cần đọc đầy đủ câu chữ đã thấy “nòng cốt” được đặt trong ngữ cảnh hội đoàn, tự chủ, thế hệ trẻ và hoạt động cộng đồng công khai. Nghị quyết không gọi đây là lực lượng bí mật; không nói đến tuyển mộ người hoạt động ngầm; không chỉ đạo che giấu quan hệ; càng không sử dụng những khái niệm như “đặc công nằm vùng” hay “đặc vụ”.

Thế nhưng, một số luồng thông tin chống Nghị quyết 23 lại cố tình xóa bỏ ngữ cảnh ấy. Có tuyên cáo trích riêng cụm “đội ngũ nòng cốt”, đặt cạnh vấn đề kinh phí, thông tin và hội đoàn rồi chuyển ngay sang cảnh báo về “bí mật xâm nhập cộng đồng”. Một số bài khác còn đi xa hơn khi đặt tiêu đề coi Nghị quyết 23 là “cơ hội triệt phá các đường dây đặc công nằm vùng”, từ đó gắn những người tham gia hoạt động cộng đồng, tôn giáo hoặc hội đoàn với những khái niệm mang màu sắc tình báo.

Đây là điểm cần đặc biệt cảnh giác. Một văn bản không nói “xâm nhập”, nhưng người viết đặt từ “nòng cốt” cạnh “xâm nhập”; văn bản không nói “đặc vụ”, nhưng bài bình luận liên tục đặt hoạt động hội đoàn cạnh pháp luật về hoạt động đại diện nước ngoài. Sau vài bước liên tưởng, người đọc được đưa từ “người nòng cốt trong hội đoàn” đến “người của chính quyền”, rồi từ “người của chính quyền” đến “đặc vụ”. Mỗi bước làm mức độ cáo buộc nặng thêm, nhưng chứng cứ lại không tăng lên.

Thực ra, “nòng cốt” là một từ rất phổ biến trong ngôn ngữ quản lý của Việt Nam. Ngành giáo dục có giáo viên, cán bộ quản lý “cốt cán” làm nhiệm vụ hỗ trợ chuyên môn. Lực lượng phòng cháy, chữa cháy tại cơ sở được xác định giữ vai trò nòng cốt trong phong trào toàn dân. Hội Người cao tuổi được nói đến như lực lượng nòng cốt trong chăm sóc người cao tuổi. Các tổ chức hữu nghị là lực lượng nòng cốt trong đối ngoại nhân dân. Cộng đồng doanh nghiệp cũng được gọi là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế.

Không ai vì vậy suy luận giáo viên cốt cán, người làm công tác phòng cháy hay thành viên hội đoàn là lực lượng hoạt động bí mật. “Nòng cốt” trong tiếng Việt thông thường chỉ những người có năng lực, uy tín, tinh thần trách nhiệm, giữ vai trò tích cực hoặc có khả năng dẫn dắt một hoạt động.

Ngay trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cách dùng này đã tồn tại từ trước Nghị quyết 23. Các hội đoàn nhiều lần được xác định là điểm tựa, lực lượng nòng cốt giúp đỡ cộng đồng, tổ chức hoạt động văn hóa, hỗ trợ hội nhập, giữ gìn bản sắc và kết nối với quê hương. Năm 2025, hơn 100 lãnh đạo, cán bộ chủ chốt hội đoàn người Việt từ 17 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia chương trình bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, điều hành và gắn kết cộng đồng. Đây là hoạt động công khai nhằm nâng cao năng lực tổ chức hội đoàn, không phải tuyển mộ lực lượng bí mật.

Bởi vậy, câu hỏi đúng không phải “Việt Nam có bồi dưỡng người nòng cốt hay không?”, mà phải là: những người đó làm gì, hoạt động theo cơ chế nào và có tuân thủ pháp luật nước sở tại hay không?

Nếu một người tổ chức lớp tiếng Việt, giúp đỡ người mới định cư, kết nối doanh nghiệp, tổ chức lễ hội văn hóa, hỗ trợ sinh viên hoặc vận động cứu trợ thì đó là hoạt động cộng đồng. Nếu một cá nhân thực hiện hành vi bí mật, cưỡng ép, theo dõi trái phép hoặc vi phạm nghĩa vụ pháp lý tại nước sở tại thì phải xử lý cá nhân và hành vi cụ thể. Không thể lấy khả năng xảy ra trường hợp thứ hai để quy kết toàn bộ những người thuộc trường hợp thứ nhất.

Chính Nghị quyết 23 đặt ra một giới hạn rất quan trọng khi yêu cầu công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp pháp luật, phong tục, tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Văn bản đồng thời nhấn mạnh nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của kiều bào. Điều đó không bảo đảm rằng mọi hoạt động triển khai trong tương lai đều không thể xảy ra sai phạm, nhưng nó bác bỏ lập luận cho rằng bản thân Nghị quyết chỉ đạo hoạt động bí mật hoặc bất hợp pháp.

So sánh quốc tế càng cho thấy việc xây dựng những người dẫn dắt cộng đồng không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Ai-len đang triển khai chiến lược đối với cộng đồng người Ai-len toàn cầu giai đoạn 2026-2030, trong đó Chính phủ công khai hỗ trợ các tổ chức cộng đồng, duy trì kết nối văn hóa, bản sắc và quan hệ với quê hương. Nước này còn có chương trình hỗ trợ tài chính cho hàng trăm tổ chức của người Ai-len ở nước ngoài và công khai thảo luận về việc hình thành thế hệ lãnh đạo cộng đồng tiếp theo.

Nếu áp dụng đúng phép suy diễn đang được dùng với Nghị quyết 23, chỉ cần lấy cụm “thế hệ lãnh đạo cộng đồng”, đặt cạnh chuyện Chính phủ cấp kinh phí cho hội đoàn, người ta cũng có thể dựng thành câu chuyện “xây dựng lực lượng nằm vùng”. Nhưng một suy luận như vậy rõ ràng không thể đứng vững nếu thiếu chứng cứ về hoạt động bí mật hoặc bất hợp pháp.

Phi-líp-pin cũng duy trì các chương trình dành cho thế hệ trẻ sinh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài nhằm giúp họ tìm hiểu cội nguồn, văn hóa, lịch sử, nâng cao năng lực lãnh đạo, tình nguyện và trách nhiệm xã hội. Năm 2026, nước này tổ chức hội nghị với hàng trăm đại diện cộng đồng từ nhiều quốc gia, bàn về vai trò của những người lãnh đạo cộng đồng trong kết nối nguồn lực, giữ gìn văn hóa và đóng góp cho phát triển đất nước.

Như vậy, phát hiện người có năng lực, bồi dưỡng lãnh đạo trẻ, củng cố mạng lưới hội đoàn và hỗ trợ hoạt động cộng đồng là những cấu phần quen thuộc của chính sách kiều dân tại nhiều quốc gia. Điều cần kiểm soát là tính minh bạch, tự nguyện và hợp pháp của hoạt động, chứ không phải mặc nhiên hình sự hóa việc một đất nước duy trì quan hệ với cộng đồng của mình ở nước ngoài.

Từ đây có thể nhận diện khá rõ thủ thuật đang được sử dụng để công kích Nghị quyết 23. Bậc thứ nhất là “người tích cực trong cộng đồng”. Qua một lần đổi nghĩa thành “nòng cốt chính trị”. Bậc thứ hai biến họ thành “người của chính quyền”. Bậc thứ ba tiếp tục chuyển thành “người được cài cắm”. Cuối cùng là “đặc vụ” hoặc “đặc công nằm vùng”. Đó là một chiếc thang gán nghĩa mà điểm đầu còn liên quan tới văn bản, còn điểm cuối đã thuộc hoàn toàn một trường nghĩa khác.

Đáng lo ngại hơn, kiểu diễn giải này không chỉ làm sai lệch một nghị quyết mà có thể gây tác động trực tiếp tới chính cộng đồng người Việt. Nếu người tổ chức lớp tiếng Việt cũng bị nghi “nằm vùng”, người tham gia chương trình về nguồn bị coi là người được “tuyển chọn”, lãnh đạo hội đoàn chỉ vì giao tiếp với cơ quan đại diện Việt Nam đã bị gắn nhãn “đặc vụ”, thì cộng đồng rất dễ rơi vào vòng xoáy nghi kỵ.

Phản biện chính sách không nên biến thành gán nhãn con người.

Có thể yêu cầu Nhà nước công khai tiêu chí hỗ trợ hội đoàn. Có thể tranh luận cơ quan đại diện nên tham gia tới mức nào để bảo đảm tính tự chủ. Có thể yêu cầu minh bạch kinh phí, mục tiêu chương trình và quan hệ phối hợp. Nhưng “cần minh bạch kinh phí” hoàn toàn khác với “kinh phí dùng để mua chuộc”; “cần bảo đảm hội đoàn tự chủ” khác với “hội đoàn bị cài cắm”; “cần phòng ngừa nguy cơ lạm dụng” càng khác với việc gọi một người là “đặc vụ”.

Chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Việt Nam cần được nhìn trong tổng thể mục tiêu của nó. Nghị quyết 23 xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc; nhấn mạnh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng, giúp bà con ổn định, hội nhập, giữ gìn tiếng Việt, văn hóa, đồng thời phát huy nguồn lực của chuyên gia, trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ. Đáng chú ý, văn bản tiếp tục đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, tôn trọng những khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc.

Đó cũng là điểm thể hiện giá trị nhân văn cần được phát huy trong thực tiễn: hỗ trợ chứ không áp đặt; kết nối chứ không cưỡng ép; khuyến khích đóng góp nhưng tôn trọng quyền lựa chọn; củng cố hội đoàn nhưng phải bảo đảm thực chất “tự chủ”. Người Việt đã mang quốc tịch nước ngoài trước hết là công dân của quốc gia họ mang quốc tịch và phải được tôn trọng đầy đủ địa vị pháp lý ấy.

Truyền thông Việt Nam đồng thời cần chủ động giải thích thuật ngữ tốt hơn. Đặc biệt khi chuyển Nghị quyết sang ngôn ngữ nước ngoài, “đội ngũ nòng cốt” cần được diễn giải theo đúng ngữ cảnh là những thành viên tích cực, có uy tín và năng lực dẫn dắt hoạt động cộng đồng, thay vì lựa chọn từ ngữ có thể gợi liên tưởng tới bộ máy chính trị hoặc tình báo. Một sai lệch nhỏ trong dịch thuật có thể trở thành nguyên liệu cho một sai lệch lớn trong truyền thông.

Nguyên tắc kiểm chứng vì thế rất đơn giản: “nòng cốt” là vai trò cộng đồng, không phải tư cách tình báo; “bồi dưỡng” là nâng cao năng lực, không tự động có nghĩa tuyển mộ; hỗ trợ hội đoàn không đồng nghĩa kiểm soát hội đoàn; gắn kết kiều bào không đồng nghĩa can thiệp vào nước sở tại. Muốn cáo buộc một người hoạt động bí mật phải có bằng chứng về chính hoạt động bí mật ấy.

Ai có chứng cứ về một cá nhân vi phạm pháp luật nước sở tại có quyền chuyển chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền. Ai không đồng tình với Nghị quyết 23 có quyền phản biện từng nội dung. Nhưng quyền phản đối một chính sách không thể biến suy đoán thành sự thật hay biến một thuật ngữ quản lý phổ thông thành một danh xưng tình báo.

Hai chữ “nòng cốt”, xét cho cùng, không hề bí hiểm. Trường học cần giáo viên cốt cán; khu dân cư cần lực lượng nòng cốt phòng cháy; tổ chức xã hội cần những thành viên tích cực; cộng đồng người xa quê cũng cần những người có uy tín, biết tổ chức hoạt động và sẵn sàng giúp đỡ người khác.

Biến những con người ấy thành “đặc công nằm vùng” bằng một phép thay nghĩa không phải là chứng minh được một âm mưu. Đó chỉ là tạo ra một câu chuyện khác với văn bản gốc.

Và trong mọi tranh luận liên quan quyền con người, có một nguyên tắc không nên bị đánh mất: không kết tội con người bằng phép liên tưởng. Muốn đi từ “người nòng cốt cộng đồng” đến “đặc vụ”, khoảng cách ấy phải được lấp đầy bằng chứng cứ, chứ không phải bằng những dấu ngoặc kép và những nhãn dán được lặp lại trên mạng xã hội.

No comments:

Post a Comment