Monday, September 14, 2026

Nghị quyết 23 và phép đánh tráo chứng cứ: dẫn luật Hoa Kỳ không có nghĩa Hoa Kỳ đã kết luận vi phạm

Có một kiểu lập luận đang xuất hiện ngày càng nhiều quanh Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: mở đầu bằng tên một đạo luật của Hoa Kỳ, đặt bên cạnh đó tên Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ, thêm vài khái niệm như phản gián, đàn áp xuyên quốc gia, đặc vụ nước ngoài, rồi chuyển rất nhanh sang kết luận rằng một cá nhân, hội đoàn, cơ sở tôn giáo hoặc mạng lưới người Việt nào đó chính là “đặc công”, “đặc vụ”, “đường dây nằm vùng”. Cảm giác mà cách trình bày ấy tạo ra khá mạnh: người đọc dễ tưởng rằng cơ quan chức năng Hoa Kỳ đã điều tra, xác nhận hoặc kết luận về những đối tượng được nêu tên. Nhưng khi bóc từng lớp dẫn chứng ra khỏi cách trình bày gây ấn tượng ấy, câu hỏi pháp lý căn bản vẫn còn nguyên: cơ quan có thẩm quyền nào đã đưa ra kết luận đó, trong văn bản nào, hồ sơ nào, vụ án nào?


Đây không phải chuyện câu chữ. Trong một nhà nước pháp quyền, sự khác biệt giữa “có thể thuộc phạm vi một đạo luật”, “bị một tổ chức gửi đơn đề nghị xem xét”, “đang bị điều tra”, “bị truy tố” và “đã bị tòa án kết luận có tội” là những khoảng cách pháp lý rất lớn. Bỏ qua những khoảng cách ấy rồi dùng tên tuổi của cơ quan công lực để phủ uy tín lên một nhận định của người viết chính là một dạng viện dẫn thẩm quyền thay cho chứng cứ.

Luồng thông tin tiêu cực đầu tiên đáng chú ý xuất hiện trong loạt bài kêu gọi “đẩy lùi Nghị quyết 23”, trong đó Nghị quyết được đặt cạnh đạo luật của Hoa Kỳ về đăng ký những người hoạt động cho chủ thể nước ngoài. Một bài ngày 12-8-2026 của Nguyễn Đình Thắng trên trang Mạch Sống đi xa đến mức gọi Nghị quyết 23 là “cơ hội triệt phá các đường dây đặc công nằm vùng”. Bài viết dẫn một số câu trong Nghị quyết về phát huy vai trò người Việt ở nước ngoài, thông tin chính sách, tham gia một số tổ chức trong nước và bố trí kinh phí, rồi từ đó khẳng định những người cộng tác “nằm lọt” vào phạm vi đạo luật Hoa Kỳ. Tiếp theo, bài viết nêu đích danh một số cá nhân, tổ chức tôn giáo, hội doanh nhân và khuyến nghị cộng đồng thu thập thông tin để báo cáo với cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ. (Machsong Media⁠)

Điểm cần phân biệt rất rõ ở đây là quyền tố giác và kết luận pháp lý. Bất kỳ cá nhân nào tại Hoa Kỳ cũng có thể gửi thông tin cho cơ quan chức năng nếu cho rằng một người hoặc tổ chức có nghĩa vụ đăng ký mà chưa đăng ký. Chính Bộ Tư pháp Hoa Kỳ công khai địa chỉ tiếp nhận thông tin về các trường hợp nghi ngờ vi phạm. Nhưng trang hướng dẫn thực thi cũng nói rõ các cuộc điều tra có tính bảo mật và cơ quan phụ trách không cung cấp thông tin cập nhật về những tố giác đã nhận. Vì vậy, việc một tổ chức tuyên bố đã gửi hồ sơ, đang chuẩn bị hồ sơ hoặc kêu gọi gửi hồ sơ hoàn toàn không phải bằng chứng rằng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã đồng ý với cách định danh “đặc vụ”, “đặc công” hay đã xác định có vi phạm pháp luật. (Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ⁠)

Quan trọng hơn, nội dung chính thức của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cho thấy đạo luật này là một cơ chế về minh bạch quan hệ đại diện, không phải một chiếc nhãn có thể tùy ý dán lên mọi người có quan hệ với một chính phủ, tổ chức hay cộng đồng ở nước ngoài. Muốn phát sinh nghĩa vụ đăng ký phải xem xét các yếu tố cụ thể như người đó có hành động theo yêu cầu, sự chỉ đạo hoặc kiểm soát của một chủ thể nước ngoài hay không; hoạt động của họ tại Hoa Kỳ thuộc nhóm hoạt động chính trị, quan hệ công chúng, tư vấn chính trị, huy động tiền hoặc đại diện lợi ích trước cơ quan công quyền hay không; đồng thời phải xem xét các trường hợp được miễn trừ. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cũng nêu rõ luật có những ngoại lệ đối với một số hoạt động thương mại chân chính, nhân đạo, tôn giáo, học thuật, khoa học, nghệ thuật và đại diện pháp lý. 

Chỉ riêng điểm này đã cho thấy vấn đề trong lối suy luận “tham gia hoạt động theo Nghị quyết 23 bằng với phải đăng ký, không đăng ký bằng với đặc vụ bất hợp pháp”. Một người Việt ở Hoa Kỳ tổ chức lớp tiếng Việt, giao lưu văn hóa, hỗ trợ du lịch, tham gia hoạt động khoa học, kết nối doanh nghiệp hay giữ quan hệ với một tổ chức trong nước chưa tự động trở thành người đại diện cho một chủ thể nước ngoài theo nghĩa pháp lý của Hoa Kỳ. Muốn kết luận phải chứng minh được quan hệ chỉ đạo, yêu cầu hoặc kiểm soát và loại hoạt động cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Chính Bộ Tư pháp Hoa Kỳ còn cho phép người chưa chắc về nghĩa vụ của mình gửi yêu cầu để được cơ quan chuyên trách cho ý kiến trước. Điều đó cho thấy việc áp dụng luật phụ thuộc vào từng hoàn cảnh thực tế chứ không thể rút ra từ một vài cụm từ trong một nghị quyết chính sách. 

Luồng thứ hai là đặt Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ và hoạt động phản gián cạnh Nghị quyết 23 để tạo liên tưởng an ninh. Ở đây, thủ thuật thường gặp là lấy một trang thông tin chính thức mô tả nhiệm vụ phản gián của cơ quan này rồi đặt ngay cạnh tên một cá nhân hoặc hội đoàn người Việt. Người đọc nếu không chú ý rất dễ hình thành cảm giác rằng cá nhân ấy đang nằm trong hồ sơ phản gián. Nhưng trang thông tin chung về thẩm quyền của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ chỉ giải thích nhiệm vụ của cơ quan: phát hiện và đối phó hợp pháp với hoạt động tình báo bí mật của các cơ quan, tổ chức nước ngoài gây phương hại tới lợi ích Hoa Kỳ. Nó không phải danh sách những cá nhân bị điều tra và càng không phải bản án đối với bất kỳ người Việt Nam cụ thể nào. (FBI⁠)

Một biểu tượng của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ, một ảnh chụp trang thông tin của cơ quan này hay đường dẫn đến trang tiếp nhận tố giác chỉ chứng minh một điều: cơ quan đó tồn tại và có thẩm quyền trong lĩnh vực được mô tả. Nó không chứng minh người được đặt bên cạnh biểu tượng ấy đã vi phạm pháp luật.

Nếu dùng kiểu suy luận ngược ấy thì bất kỳ ai cũng có thể lấy trang mạng của một cơ quan phòng, chống tham nhũng đặt cạnh tên một doanh nhân rồi tạo cảm giác người đó tham nhũng; lấy trang của cơ quan chống khủng bố đặt cạnh ảnh một tổ chức rồi khiến người đọc tưởng tổ chức ấy liên quan khủng bố. Pháp quyền không vận hành như vậy. Chính vì uy tín của cơ quan công lực lớn nên việc mượn biểu tượng, tên gọi và thẩm quyền chung của họ để tạo ấn tượng về một kết luận cụ thể càng cần được nhìn nhận thận trọng.

Luồng thứ ba liên quan đến khái niệm đàn áp xuyên quốc gia. Một số tuyên bố chống Nghị quyết 23 cho rằng văn bản này mở đường hoặc làm gia tăng nguy cơ đàn áp xuyên quốc gia đối với người Việt ở nước ngoài. Một bản tuyên bố của một nhóm người Mỹ gốc Việt tháng 8-2026 thậm chí dẫn trực tiếp trang của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ về vấn đề này và khuyến nghị báo cáo các dấu hiệu bị đe dọa, giám sát hoặc cưỡng ép. (Báo Quốc Dân⁠)

Quyền cảnh giác trước hành vi đe dọa, cưỡng ép hay trả đũa xuyên biên giới là chính đáng. Nếu có bằng chứng cụ thể về việc một người bị theo dõi bất hợp pháp, đe dọa thân thể, ép buộc, bắt cóc hoặc bị dùng người thân để gây sức ép thì cần chuyển ngay cho cơ quan pháp luật nước sở tại. Nhưng từ nguyên tắc đó nhảy sang kết luận rằng chính Nghị quyết 23 là một chương trình đàn áp xuyên quốc gia lại là bước suy luận cần chứng minh, không phải điều có thể mặc nhiên chấp nhận.

Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ mô tả các nguy cơ đàn áp xuyên quốc gia gắn với những hành vi cụ thể như đe dọa, quấy rối, cưỡng ép hoặc những hoạt động bất hợp pháp nhằm bịt tiếng những người chỉ trích ở nước ngoài. Trong các tài liệu về hoạt động ảnh hưởng ác ý từ nước ngoài, cơ quan này cũng nhấn mạnh các yếu tố như hoạt động bí mật, không khai báo, cưỡng ép, phá hoại hay phạm pháp. 

Trong khi đó, toàn văn Nghị quyết 23 được công bố công khai lại tập trung vào những nhiệm vụ như củng cố khối đại đoàn kết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt ở nước ngoài, hỗ trợ cộng đồng ổn định và hội nhập, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa, phát huy nguồn lực trí thức, khoa học, kinh tế, văn hóa, tăng cường thông tin và kết nối cộng đồng. Văn bản đồng thời đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong yêu cầu phù hợp với pháp luật Việt Nam và pháp luật, phong tục của nước sở tại. 

Có thể tranh luận về từng biện pháp triển khai. Có thể yêu cầu minh bạch hóa nguồn kinh phí, cách lựa chọn hội đoàn, cơ chế phối hợp hay ranh giới giữa hoạt động cộng đồng với vận động chính sách tại nước ngoài. Nhưng muốn biến những vấn đề cần giám sát ấy thành cáo buộc về đàn áp xuyên quốc gia thì phải đưa ra chứng cứ về hành vi cụ thể. Không thể lấy một khái niệm an ninh nghiêm trọng rồi phủ lên toàn bộ chính sách đối với hơn 6,5 triệu người Việt Nam đang sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Luồng thứ tư là đánh đồng hợp tác tư pháp quốc tế với công cụ “săn đuổi người bất đồng chính kiến”. Đây cũng là một phép nhập nhằng giữa cơ chế và khả năng lạm dụng cơ chế. Hợp tác điều tra, dẫn độ, thu thập chứng cứ và tương trợ tư pháp xuyên biên giới không phải sáng kiến riêng của Việt Nam. Đó là cấu phần thông thường của hoạt động thực thi pháp luật quốc tế.

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ có hẳn cơ quan chuyên trách về hợp tác hình sự quốc tế, chịu trách nhiệm về dẫn độ, tương trợ tư pháp, thu thập chứng cứ ở nước ngoài, chuyển giao người bị kết án và các vấn đề điều ước. Chính Bộ Tư pháp Hoa Kỳ giải thích rằng phần lớn yêu cầu tương trợ được thực hiện thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp có giá trị pháp lý, xác định nghĩa vụ, phạm vi hỗ trợ và nội dung yêu cầu. Các yêu cầu được chuyển qua cơ quan trung ương có thẩm quyền chứ không cho phép cơ quan nước ngoài tự ý sang lãnh thổ Hoa Kỳ thực hiện quyền cưỡng chế. 

Điều đó nói lên một nguyên tắc rất quan trọng: hợp tác tư pháp chính thức và hành động cưỡng chế bí mật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Một quốc gia đề nghị quốc gia khác thu thập chứng cứ, dẫn độ nghi phạm hoặc phối hợp chống tội phạm theo điều ước và thủ tục pháp luật là thực hiện hợp tác tư pháp. Một cơ quan nước ngoài tự ý bắt người, đe dọa, theo dõi bất hợp pháp hay cưỡng chế trên lãnh thổ quốc gia khác lại là vấn đề khác về chủ quyền và pháp luật.

Chính cơ chế điều ước là một lớp bảo vệ pháp lý, bởi yêu cầu phải đi qua cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu và phải chịu sự xem xét theo pháp luật của nước đó. Hoa Kỳ sử dụng cơ chế này rộng rãi. Nhiều quốc gia châu Âu, châu Á, châu Đại Dương cũng ký các hiệp định tương trợ tư pháp, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án và thỏa thuận hợp tác cảnh sát. Sự tồn tại của một chủ trương tăng cường hợp tác tư pháp trong Nghị quyết 23 vì vậy không thể tự nó chứng minh chủ trương đàn áp ở nước ngoài.

Ngược lại, cách tiếp cận nghiêm túc phải là: nếu nghi ngờ một yêu cầu dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp được sử dụng sai mục đích, hãy kiểm tra chính hồ sơ yêu cầu đó; căn cứ pháp luật nào được viện dẫn; hành vi bị cáo buộc có phải tội phạm ở cả hai nước hay không; có ngoại lệ đối với hành vi chính trị hay không; tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền nước sở tại đã quyết định thế nào. Chỉ bằng cách ấy mới phân biệt được hợp tác chống tội phạm với hành vi lợi dụng hợp tác tư pháp.

Luồng thứ năm đáng chú ý hơn cả là quá trình “nâng cấp cáo buộc” qua mạng xã hội. Ban đầu một người viết “có nguy cơ”; tài khoản khác dẫn lại thành “có dấu hiệu”; một trang tiếp tục gọi đó là “mạng lưới”; sau vài vòng chia sẻ, một số bài đã dùng luôn các danh xưng như “đặc công”, “đặc vụ”, “đường dây nằm vùng” như thể đây là tư cách pháp lý đã được cơ quan chức năng xác định. Đây là cơ chế biến suy đoán thành “sự thật xã hội” bằng lặp lại.

Bài của Mạch Sống là ví dụ đáng phân tích. Từ những câu chữ công khai của Nghị quyết 23 về “đại sứ văn hóa”, thông tin chính sách, phát huy hội đoàn và nguồn lực cộng đồng, bài viết đi tới cách gọi “đặc công”, rồi nêu danh tính cá nhân cụ thể, tiếp đó kêu gọi thu thập hồ sơ gửi cơ quan Hoa Kỳ. (Machsong Media⁠) Trong khi ấy, chính trang hướng dẫn của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ không hề cho phép suy luận rằng một người giữ vị trí trong tổ chức ở Việt Nam hoặc có quan hệ với cơ quan Việt Nam mặc nhiên phạm luật. Các tiêu chí về quan hệ đại diện và hoạt động cụ thể vẫn phải được xác lập. 

Thậm chí Bộ Tư pháp Hoa Kỳ còn lưu ý rằng việc họ tiếp nhận một hồ sơ đăng ký không đồng nghĩa cơ quan này xác nhận hoặc bảo chứng tính chính xác của toàn bộ nội dung do người đăng ký khai báo. Nếu ngay cả một tài liệu nằm trong kho chính thức của cơ quan nhà nước cũng phải được đọc đúng giá trị chứng cứ của nó thì càng không thể coi một ảnh chụp trang mạng của cơ quan đó là “bằng chứng” cho một cáo buộc bên ngoài. 

Đây chính là lỗi “mượn thẩm quyền”. Người viết không có kết luận của cơ quan chức năng nhưng đặt tên cơ quan chức năng thật gần cáo buộc của mình để người đọc tự nối hai thứ với nhau. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ có đạo luật về minh bạch đại diện nước ngoài là sự thật. Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ điều tra phản gián và đàn áp xuyên quốc gia là sự thật. Nhưng từ hai sự thật chung đó không thể suy ra một sự thật riêng rằng cá nhân A, tổ chức B hoặc Nghị quyết 23 đã vi phạm các quy định ấy.

Chuẩn chứng minh phải cao hơn nhiều. Nếu Bộ Tư pháp Hoa Kỳ xác định một người có nghĩa vụ đăng ký, có thể xuất hiện văn bản yêu cầu tuân thủ, hồ sơ thực thi, cáo trạng hoặc các tài liệu chính thức khác tùy từng vụ việc. Nếu cơ quan công tố truy tố một người về hoạt động bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài, phải có cáo trạng. Nếu tranh chấp đi đến xét xử, cần xem quyết định và bản án của tòa. Nếu Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ công khai một vụ án, phải có thông cáo hoặc hồ sơ vụ việc gắn với cá nhân được nêu. Còn nếu mới chỉ có bài viết của một tổ chức kêu gọi cộng đồng “báo cáo” một người thì trạng thái pháp lý vẫn chỉ là có người đưa ra cáo buộc hoặc đề nghị xem xét.

Điều này cũng cần được áp dụng công bằng cho mọi phía. Không nên vì phản bác thông tin thiếu căn cứ mà phủ nhận khả năng tồn tại những hành vi vi phạm thực tế. Nếu một cá nhân nhận chỉ đạo bí mật, che giấu nguồn tiền, thực hiện vận động chính trị thuộc phạm vi phải đăng ký mà cố tình không đăng ký thì pháp luật Hoa Kỳ có cơ chế xử lý. Nếu có hành vi đe dọa, cưỡng ép hoặc theo dõi bất hợp pháp người bất đồng chính kiến tại Hoa Kỳ, cơ quan thực thi pháp luật Hoa Kỳ có quyền điều tra. Tôn trọng Nghị quyết 23 không đồng nghĩa miễn trừ bất kỳ ai khỏi pháp luật nước sở tại. Ngược lại, chính yêu cầu của Nghị quyết về tôn trọng pháp luật nước sở tại phải được xem như nguyên tắc bắt buộc trong triển khai. 

Nhìn rộng hơn, chính sách gắn kết cộng đồng ở nước ngoài cũng không phải hiện tượng bất thường. Quốc gia nào có cộng đồng kiều dân lớn cũng tìm cách giữ liên hệ văn hóa, hỗ trợ lãnh sự, phát huy mạng lưới chuyên gia, thu hút đầu tư, chuyển giao tri thức và xây dựng cầu nối hữu nghị. Điều quyết định tính hợp pháp không nằm ở việc một đất nước có chính sách với kiều dân hay không, mà ở phương thức triển khai: phải công khai, tự nguyện, tôn trọng quốc tịch và tư cách pháp lý của kiều dân, tôn trọng chủ quyền và pháp luật nước cư trú.

Ở phương diện này, Nghị quyết 23 có một nền tảng đáng chú ý: tiếp tục xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; nhấn mạnh củng cố đại đoàn kết, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, tôn trọng những khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc; chăm lo quyền lợi chính đáng, hỗ trợ cộng đồng ổn định và hội nhập; giữ gìn tiếng Việt, văn hóa; thu hút chuyên gia, trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ đóng góp cho phát triển đất nước. Đây là những nội dung cần được đánh giá bằng thực tế thực hiện chứ không nên được thay thế bằng những nhãn như “đặc công hóa cộng đồng”. 

Sau hơn hai thập niên thực hiện chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, quy mô cộng đồng đã vượt 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chính Nghị quyết 23 nhìn nhận cộng đồng ngày càng ổn định, hội nhập sâu rộng và có nhiều chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, người lao động kỹ thuật cao. Nghị quyết cũng thẳng thắn thừa nhận còn những hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi, phát huy nguồn lực, xây dựng hội đoàn và phối hợp chính sách. Một chính sách công có thể còn những khâu cần hoàn thiện, nhưng điều đó khác căn bản với việc mặc nhiên coi nó là một kế hoạch hoạt động bí mật.

Từ đây cũng có thể nhận diện động lực truyền thông của một bộ phận chiến dịch chống Nghị quyết 23 mà không cần suy đoán ý nghĩ bên trong của bất kỳ cá nhân nào. Những gì công khai cho thấy mục tiêu được chính người viết tuyên bố là “đẩy lùi”, “vô hiệu hóa”, “triệt phá” những mạng lưới mà họ cho rằng liên quan tới việc triển khai Nghị quyết. Có bài còn công khai hướng dẫn lựa chọn đối tượng, thu thập thông tin, gửi hồ sơ cho cơ quan Hoa Kỳ và nhân rộng cách làm sang nhiều nhóm khác. (Machsong Media⁠) Đây là hoạt động vận động có chủ đích và người đọc hoàn toàn có quyền biết bối cảnh ấy khi đánh giá mức độ khách quan của thông tin.

Điều đáng cảnh báo không phải quyền phản đối Nghị quyết 23. Trong xã hội dân chủ, bất cứ ai cũng có quyền phê bình một chính sách, từ chối tham gia một hội đoàn hoặc đề nghị cơ quan chức năng kiểm tra hành vi mà họ nghi ngờ. Điều cần cảnh giác là sự trượt dốc từ “tôi nghi ngờ” sang “người này là đặc vụ”, từ “tôi đã gửi tố giác” sang “cơ quan Hoa Kỳ đang xử lý”, rồi cuối cùng từ “trang mạng của Cục Điều tra Liên bang nói về đàn áp xuyên quốc gia” sang “Cục Điều tra Liên bang đã xác nhận Nghị quyết 23 là đàn áp xuyên quốc gia”. Những bước chuyển ấy nếu không có chứng cứ chen giữa chính là nơi thông tin sai lệch hình thành.

Đối với truyền thông Việt Nam, cách phản bác hiệu quả nhất cũng không phải đáp lại một nhãn dán bằng một nhãn dán khác. Cần công khai văn bản, chỉ rõ điều khoản, phân biệt quy phạm pháp luật với nhận định chính trị, đối chiếu từng cáo buộc với hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền. Khi người khác đưa ảnh trang mạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, hãy đọc chính nội dung trang đó. Khi họ viện dẫn Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ, hãy hỏi xem thông cáo nào của cơ quan này nói về trường hợp cụ thể. Khi họ nói một người vi phạm luật đăng ký đại diện nước ngoài, hãy tìm hồ sơ đăng ký, văn bản yêu cầu, cáo trạng hoặc quyết định tư pháp. Khi họ nói một vụ việc là đàn áp xuyên quốc gia, hãy kiểm tra hành vi, chứng cứ và hồ sơ điều tra.

Đối với kiều bào, nguyên tắc cũng rất đơn giản: không nên sợ hãi chỉ vì tên của một cơ quan an ninh được đặt cạnh tên một cá nhân hoặc hội đoàn trên mạng xã hội. Quyền và nghĩa vụ của mỗi người được xác định bởi pháp luật nước mình cư trú và bởi hành vi thực tế của chính mình, không phải bởi cách gọi của một trang mạng. Ai tham gia hoạt động chính trị, vận động hoặc đại diện cho một chủ thể nước ngoài tại Hoa Kỳ cần tìm hiểu nghĩa vụ công khai theo pháp luật Hoa Kỳ. Ai chỉ tham gia sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, học thuật, khoa học, cộng đồng cũng cần hiểu đúng các quy định và ngoại lệ liên quan. Minh bạch là cách tốt nhất để tránh cả vi phạm thật lẫn cáo buộc vô căn cứ. 

Nghị quyết 23 cũng cần được thực thi theo chính tinh thần đó: công khai, tôn trọng sự tự nguyện, không áp đặt căn tính chính trị lên người Việt đã mang quốc tịch nước ngoài, không biến hoạt động cộng đồng thành nghĩa vụ chính trị, minh bạch kinh phí và quan hệ phối hợp khi pháp luật nước sở tại yêu cầu. Làm tốt những điều ấy vừa bảo vệ kiều bào vừa khiến các suy diễn về “mạng lưới bí mật” mất đất tồn tại.

Cuối cùng, một biểu tượng cơ quan điều tra không phải chứng cứ. Một đường dẫn đến trang Bộ Tư pháp không phải cáo trạng. Một đơn tố giác không phải quyết định khởi tố. Một cáo trạng chưa phải bản án. Và một bài viết của tổ chức vận động, dù trích dẫn bao nhiêu đạo luật, cũng không thể thay cơ quan tư pháp đưa ra phán quyết về một con người.

Đó mới là chuẩn mực cần bảo vệ khi tranh luận về Nghị quyết 23: ai cáo buộc thì phải đưa chứng cứ; ai viện dẫn pháp luật thì phải viện dẫn đúng điều kiện áp dụng; ai nói cơ quan Hoa Kỳ đã kết luận thì phải chỉ được văn bản của chính cơ quan ấy. Pháp quyền được xây dựng trên hồ sơ, thủ tục và chứng cứ, không được xây dựng bằng nghệ thuật ghép biểu tượng cơ quan công lực vào một tấm hình rồi để người xem tự suy ra điều mà chưa cơ quan nào kết luận.

Nếu muốn bảo vệ cộng đồng người Việt ở nước ngoài khỏi cả hành vi can thiệp trái pháp luật lẫn các chiến dịch gán nhãn thiếu căn cứ, đây chính là nguyên tắc công bằng nhất: hãy để chứng cứ nói trước, để cơ quan có thẩm quyền kết luận sau và đừng biến uy tín của luật pháp thành đạo cụ cho một cuộc chiến truyền thông.


No comments:

Post a Comment