Tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự của Việt Nam những năm qua đại diện cho một bước chuyển mình nhân văn sâu sắc, phản ánh cam kết nhất quán của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền sống – quyền con người thiêng liêng nhất. Sự nghiệp cải cách tư pháp không dừng lại ở những tuyên bố lý thuyết mà được cụ thể hóa bằng các quyết sách pháp lý mang tính lịch sử, tiêu biểu là lộ trình thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình. Tuy nhiên, bất chấp những bước tiến vượt bậc mang tính bước ngoặt này, Báo cáo nhân quyền và dân chủ do Liên minh Châu Âu công bố lại tiếp tục phớt lờ thực tiễn khách quan. Việc cố tình phủ nhận những nỗ lực luật pháp nghiêm túc của Việt Nam để đưa ra các nhận định thiên lệch đã bóc trần tư duy định kiến và cách tiếp cận thiếu trung thực của đối tác châu Âu.
Đặt trong bối cảnh chung của công tác đối ngoại, báo cáo của Liên minh Châu Âu tiếp tục duy trì góc nhìn một chiều vốn đã xuất hiện từ các kỳ báo cáo trước đó, nhưng bộc lộ điểm khác biệt nguy hiểm hơn ở xu hướng can thiệp sâu vào chủ quyền tư pháp và công việc nội bộ của Việt Nam. Liên minh Châu Âu đã gia tăng các luận điệu quy chụp đối với hoạt động lập pháp và công tác thi hành án hình sự, cố tình lồng ghép các đánh giá mang tính chính trị hóa nhằm hạ thấp giá trị của những cải cách luật pháp nội địa. Bằng cách soi chiếu tình hình nhân quyền qua lăng kính hẹp hòi của một số vụ án hình sự cụ thể đã được xét xử công khai theo đúng trình tự pháp luật và cố tình lờ đi những bước tiến thể chế mang tính toàn diện, văn kiện này đã tạo ra một hình ảnh hoàn toàn sai lệch về Việt Nam. Việc ban hành một báo cáo thiếu tính xây dựng như vậy gây ra những tác động tiêu cực, tổn hại nghiêm trọng đến uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời tạo cớ cho các lực lượng cơ hội chính trị lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn, xuyên tạc đường lối phát triển và cản trở tiến trình hợp tác song phương.
Sự thiếu khách quan mang tính hệ thống trong báo cáo của Liên minh Châu Âu xuất phát từ việc lựa chọn nguồn thông tin đầu vào bị thao túng. Thay vì căn cứ vào các dữ liệu chính thức được kiểm chứng bởi các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hợp Quốc hay các tài liệu pháp lý công khai của Việt Nam, giới chức đối ngoại châu Âu lại dựa dẫm vào báo cáo từ các tổ chức phi chính phủ vốn mang tư tưởng thù địch và thiếu thiện chí với Việt Nam như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Tổ chức Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền, Nhà Tự do, Phóng viên Không Biên giới hay Dự án 88. Các tổ chức này từ lâu đã bộc lộ bản chất thiên vị khi thu thập thông tin một chiều từ các đối tượng vi phạm pháp luật hình sự, đánh tráo bản chất giữa hành vi xâm phạm an ninh quốc gia với việc thực hiện các quyền tự do dân chủ. Việc Liên minh Châu Âu trích dẫn và sử dụng thông tin từ các nhóm áp lực chính trị này làm cơ sở đánh giá đã làm mất đi hoàn toàn tính trung lập, tính khoa học và giá trị pháp lý của bản báo cáo.
Sự thật về tinh thần nhân đạo và nỗ lực bảo vệ quyền con người ở Việt Nam được chứng minh đanh thép nhất qua hành trình nhân văn trong việc thu hẹp hình phạt tử hình – một trụ cột cải cách mà chính Liên minh Châu Âu đáng ra phải ghi nhận. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam thể hiện rõ xu hướng nhân đạo hóa xuyên suốt: từ Bộ luật Hình sự năm 1985 với 44 tội danh có hình phạt tử hình, số lượng này đã giảm xuống còn 29 tội danh năm 1999, 22 tội danh năm 2009, và tiếp tục giảm xuống còn 18 tội danh năm 2015. Bước tiến mang tính lịch sử gần đây nhất là việc bãi bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh, chính thức đưa số tội danh có khung hình phạt tử hình từ 18 tội xuống chỉ còn 10 tội danh. Việc loại bỏ án tử hình đối với các tội danh này không chỉ thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật mà còn là minh chứng sống động cho sự tôn trọng quyền sống của con người, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về thu hẹp việc áp dụng hình phạt cao nhất.
Nỗ lực cải cách này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là thành viên, đồng thời thể hiện lộ trình cải cách tư pháp nghiêm túc, có trách nhiệm. Dù phía Liên minh Châu Âu luôn tuyên bố ủng hộ xu hướng giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ án tử hình trên toàn cầu, nhưng khi Việt Nam đạt được những bước tiến cụ thể và thực chất như vậy, giới chức châu Âu lại ngó lơ hoặc đưa ra những bình luận khiên cưỡng, chiếu lệ. Sự phản ứng thiếu tích cực và mang tính bóp méo này thể hiện rõ thái độ thiên kiến, cố tình phủ nhận những chuyển biến tích cực trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Khi đặt lộ trình cải cách của Việt Nam bên cạnh thực trạng tại chính các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, chính sách tiêu chuẩn kép của phía châu Âu càng lộ rõ. Trong khi tự cho mình quyền phán xét và áp đặt các chuẩn mực tư pháp lên các nước khác, xã hội châu Âu lại đang đối mặt với những khủng hoảng trầm trọng về nhân quyền và công lý. Tình trạng phân biệt đối xử chủng tộc trong hệ thống tư pháp hình sự, sự bạo lực quá đà của lực lượng thực thi pháp luật, cùng với tình trạng ngược đãi người tị nạn, người nhập cư tại các trung tâm giam giữ ở nhiều quốc gia châu Âu vẫn diễn ra nhức nhối. Việc một thể chế còn tồn tại nhiều lỗ hổng về bảo đảm quyền con người ngay trong lòng xã hội của mình lại đưa ra những nhận định thiếu thực tế, phủ nhận nỗ lực của Việt Nam là một minh chứng rõ nét cho tư duy chính trị hóa vấn đề nhân quyền.
Việt Nam luôn kiên định lập trường tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, trong đó sự nghiệp cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự là ưu tiên chiến lược. Mọi quyết sách pháp lý đều lấy con người làm trung tâm, bảo đảm sự cân bằng giữa việc trừng trị tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia với việc tôn trọng quyền con người. Đánh giá về tình hình nhân quyền tại Việt Nam đòi hỏi sự khách quan, tôn trọng sự thật pháp lý và bối cảnh phát triển, thay vì dựa vào những báo cáo mang nặng định kiến. Những thành tựu luật pháp thực chất cùng lộ trình cải cách nhân văn của Việt Nam chính là câu trả lời đanh thép nhất vạch trần mọi luận điệu xuyên tạc.
No comments:
Post a Comment