Monday, September 14, 2026

Một từ bị đánh tráo, cả bản chất bị đảo ngược: nhìn Nghị quyết 23 từ chuẩn mực pháp lý quốc tế

Chỉ cần thay một từ trong một khái niệm pháp lý, toàn bộ bản chất của vấn đề có thể bị đổi màu. Đó chính là thủ pháp đang xuất hiện trong một số bài viết công kích Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: từ một chính sách công khai nhằm gắn kết cộng đồng, chăm lo quyền lợi chính đáng, bảo tồn tiếng Việt, phát huy nguồn lực trí thức và tăng cường quan hệ hữu nghị, người ta cố tình đẩy nó sang trường nghĩa của “can thiệp”, “thâm nhập”, “cài cắm”, thậm chí ám chỉ hoạt động bí mật nhằm tác động chính trị tại nước sở tại. Cách đánh tráo này không chỉ sai về nội dung Nghị quyết 23 mà còn trái với chính cách các nền dân chủ phương Tây phân biệt giữa “gây ảnh hưởng từ nước ngoài” và “can thiệp từ nước ngoài”.


Điểm cần làm rõ trước hết là: hoạt động gây ảnh hưởng từ nước ngoài không tự thân đồng nghĩa với hành vi bất hợp pháp. Tài liệu của Bộ Tổng chưởng lý Úc về cơ chế minh bạch ảnh hưởng từ nước ngoài xác định rằng một cá nhân hoặc tổ chức có thể phải đăng ký khi thực hiện một số hoạt động tại Úc thay mặt cho một chủ thể nước ngoài nhằm tác động đến quá trình chính trị hoặc quản trị. Điều quan trọng là cơ chế này được xây dựng để công chúng biết ai đang đại diện cho lợi ích nào, mức độ và hình thức ảnh hưởng ra sao. Chính cơ quan này còn nói rất rõ rằng Úc không phản đối các hoạt động gây ảnh hưởng từ nước ngoài nếu chúng công khai, minh bạch và tôn trọng con người, thể chế và hệ thống dân chủ của Úc. Trái lại, “can thiệp từ nước ngoài” được mô tả là những hoạt động có yếu tố đe dọa, bí mật hoặc lừa dối và gây phương hại đến lợi ích của Úc. Như vậy, ranh giới không nằm ở chỗ một cộng đồng có quan hệ với quê hương hay một chính phủ có chính sách kết nối công dân và người gốc nước mình ở nước ngoài; ranh giới nằm ở phương thức hành động: công khai hay bí mật, minh bạch hay lừa dối, tự nguyện hay cưỡng ép, hợp pháp hay phá hoại. (Attorney-General’s Department⁠)

Đặt tiêu chuẩn ấy cạnh Nghị quyết 23, sự chênh lệch giữa văn bản gốc và cách diễn giải xuyên tạc hiện lên rất rõ. Nghị quyết khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời yêu cầu chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đồng bào. Nghị quyết chủ trương xây dựng cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng, phát triển ổn định, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa; khuyến khích chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ đóng góp cho đất nước. Đáng chú ý, văn bản còn quy định công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải phù hợp với pháp luật, phong tục và tập quán của Việt Nam và nước sở tại. Không có dòng nào chỉ đạo hoạt động bí mật; không có yêu cầu che giấu ngugốc tài trợ; không có chủ trương đe dọa, cưỡng ép người khác; càng không có chỉ thị can thiệp vào bầu cử, cơ quan công quyền hay quá trình ra quyết định chính trị.

Thế nhưng, một luồng thông tin tiêu cực lại cố tình xóa bỏ toàn bộ ranh giới pháp lý đó. Ví dụ điển hình là bài viết được Việt Tân đăng lại ngày 7-9-2026, ghi nguồn từ trang cá nhân của luật sư Đặng Đình Mạnh. Bài này mô tả Nghị quyết 23 như một “chiến lược thâm nhập”, cáo buộc có việc “bơm” tài chính cho các tổ chức, “mua chuộc” người đại diện cộng đồng, “cài cắm nhân sự”, khoét sâu mâu thuẫn hội đoàn; đồng thời suy diễn rằng thúc đẩy hợp tác tư pháp, dẫn độ và phòng, chống tội phạm thực chất nhằm vào người hoạt động đối lập. Đây là ví dụ rõ về kỹ thuật biến giả định thành kết luận. Các cáo buộc nghiêm trọng như mua chuộc, cài cắm, tài trợ nhằm thao túng hoặc dùng hợp tác tư pháp để đàn áp lẽ ra phải đi kèm bằng chứng về chủ thể, dòng tiền, mệnh lệnh, vụ việc và hành vi cụ thể. Nhưng điều được đưa ra chủ yếu là suy đoán ý đồ, rồi từ suy đoán quay ngược lại quy kết cho cả một nghị quyết. (Việt Tân⁠)

Luồng thứ hai là đánh đồng việc hỗ trợ tổ chức cộng đồng, hoạt động văn hóa, dạy và học tiếng Việt với “thâm nhập tư tưởng”. Cách lập luận này nghe có vẻ quyết liệt nhưng thiếu nhất quán. Một quốc gia quan tâm đến ngôn ngữ, văn hóa và sự gắn bó của cộng đồng gốc nước mình ở nước ngoài là hiện tượng phổ biến. Ấn Độ có cả hệ thống chương trình dành cho người Ấn ở nước ngoài, từ kết nối cộng đồng, chương trình tìm hiểu đất nước, học bổng cho con em kiều dân, quỹ phúc lợi cộng đồng đến cơ chế dành cho người gốc Ấn ở nước ngoài. Ai-len xác định vai trò của nhà nước là hỗ trợ, kết nối và tạo điều kiện cho cộng đồng người Ai-len toàn cầu, kể cả bằng hỗ trợ tài chính và mạng lưới cơ quan đại diện. Phi-líp-pin có một ủy ban chuyên trách người Phi-líp-pin ở nước ngoài, triển khai các chương trình gắn kết cộng đồng, huy động tri thức, mạng lưới và nguồn lực của người xa xứ cho phát triển quốc gia. Nếu dùng đúng tiêu chuẩn mà một số người đang áp vào Việt Nam, thì hàng loạt chính sách kiều dân của các nước này cũng có thể bị bóp méo thành “thâm nhập”. Nhưng đó rõ ràng là một phép suy luận vô lý. 

Luồng thứ ba tinh vi hơn: lấy các từ như “cầu nối”, “sức mạnh mềm”, “phát huy vai trò chủ thể trong thông tin, tuyên truyền”, “huy động nguồn lực” rồi gắn chúng với ý niệm can thiệp chính trị. Đây là cách tách từ khóa khỏi bối cảnh. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, cộng đồng người ở nước ngoài vốn là cầu nối về thương mại, văn hóa, khoa học, giáo dục, đầu tư, du lịch và giao lưu nhân dân. Bản thân Nghị quyết 23 diễn giải rất cụ thể các lĩnh vực cần phát huy nguồn lực gồm kinh tế - xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc một trí thức gốc Việt kết nối trường đại học, một doanh nhân mở rộng hợp tác thương mại, một hội người Việt tổ chức lớp tiếng Việt, một nghệ sĩ quảng bá văn hóa hay một chuyên gia góp ý chính sách phát triển cho quê hương không thể chỉ vì có yếu tố “ảnh hưởng” mà bị gắn nhãn “can thiệp”. Muốn chuyển từ đánh giá chính sách sang cáo buộc hành vi can thiệp, phải chứng minh những dấu hiệu bổ sung như bí mật, lừa dối, cưỡng ép, đe dọa, che giấu quan hệ đại diện hoặc vi phạm pháp luật nước sở tại. 

Luồng thứ tư là sử dụng nỗi lo chính đáng của các nước về can thiệp từ bên ngoài để gieo cảm giác rằng mọi hoạt động của cộng đồng kiều dân đều đáng ngờ. Đây là thủ pháp mượn uy tín của pháp luật nước ngoài nhưng bỏ đi một nửa nội dung của chính pháp luật ấy. Ca-na-đa là ví dụ rất mới. Từ ngày 4-8-2026, nước này đưa cơ chế đăng ký minh bạch hoạt động gây ảnh hưởng từ nước ngoài vào vận hành. Cơ quan phụ trách của Ca-na-đa giải thích thẳng rằng các chính phủ, tổ chức và cá nhân trên thế giới thường xuyên tiếp xúc với đối tác nước ngoài để thúc đẩy lợi ích ngoại giao, kinh tế, văn hóa và chính sách; nhiều hoạt động vận động, truyền thông hay tiếp xúc với người giữ chức vụ công là hợp pháp, chính đáng và minh bạch. Điều bị cảnh giác là hoạt động không minh bạch, sử dụng phương thức bí mật, lừa dối hoặc cưỡng ép nhằm tác động vào quá trình dân chủ. Nói cách khác, chính Ca-na-đa cũng không dùng một chiếc lưới khái niệm duy nhất để gom mọi quan hệ với nước ngoài vào nhóm “can thiệp”. 

Hoa Kỳ cũng đi theo hướng phân biệt bằng tính minh bạch. Luật về đăng ký người đại diện cho chủ thể nước ngoài yêu cầu một số người thực hiện hoạt động chính trị, quan hệ công chúng, tư vấn hoặc đại diện lợi ích cho chủ thể nước ngoài phải công khai mối quan hệ, hoạt động, khoản thu và khoản chi. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ nhấn mạnh mục đích trung tâm là bảo đảm chính quyền và công chúng biết nguồn gốc của những thông tin và hoạt động nhằm tác động dư luận, chính sách hoặc pháp luật, qua đó có cơ sở đánh giá sáng suốt. Cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ cũng từng phân biệt hoạt động ngoại giao và gây ảnh hưởng truyền thống, vốn có thể bình thường và hợp pháp, với hoạt động gây ảnh hưởng xấu mang tính ngầm, không khai báo, cưỡng ép hoặc phạm pháp. Chính vì vậy, lấy việc một nhà nước duy trì quan hệ với cộng đồng gốc nước mình làm bằng chứng tự động cho “can thiệp” là trái với chính tư duy pháp lý mà Hoa Kỳ đang áp dụng. (Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ⁠)

Từ đối chiếu này có thể thấy vấn đề của một số bài công kích Nghị quyết 23 không phải là họ nêu câu hỏi về minh bạch. Đặt câu hỏi về nguồn tài trợ, tính tuân thủ pháp luật sở tại, giới hạn vận động hay khả năng xung đột lợi ích là hoàn toàn chính đáng. Vấn đề nằm ở chỗ câu hỏi bị biến thành bản án trước khi có chứng cứ. Người đọc được dẫn qua một chuỗi liên tưởng: Nhà nước có chính sách với kiều bào; kiều bào có thể tạo ảnh hưởng xã hội; ảnh hưởng xã hội có thể liên quan chính trị; vậy chính sách ấy là can thiệp chính trị. Chuỗi suy luận ấy bỏ qua toàn bộ tiêu chí về tính công khai, quan hệ đại diện, ý chí của chủ thể, phương thức tác động và mức độ tuân thủ pháp luật. Đó là đánh tráo khái niệm chứ không phải phân tích pháp lý.

Cũng cần nhìn Nghị quyết 23 trong nền tảng thực tiễn hơn hai thập niên của chính sách đại đoàn kết dân tộc. Theo văn bản công bố chính thức, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, một số người giữ vị trí quan trọng trong xã hội sở tại. Nghị quyết không chỉ nói tới huy động nguồn lực mà còn thừa nhận những điểm còn hạn chế: địa vị pháp lý và đời sống của một bộ phận cộng đồng vẫn khó khăn, việc phát huy nguồn lực chưa tương xứng, cơ chế phối hợp có nơi chưa đồng bộ. Một văn bản tự chỉ ra cả thành tựu lẫn hạn chế, nhấn mạnh trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chính đáng và yêu cầu tuân thủ pháp luật nước sở tại, về cấu trúc rõ ràng là một văn bản quản trị chính sách công, không phải “mật lệnh” cho hoạt động can thiệp. 

Tính nhân văn của Nghị quyết 23 còn nằm ở cách xác định chủ thể. Người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội; Nhà nước khẳng định trân trọng, cầu thị, lắng nghe cả những ý kiến khác biệt nếu không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc; đề cao hòa hợp, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Những định hướng ấy cần được đánh giá bằng kết quả thực hiện và tiếp tục được giám sát bằng pháp luật, nhưng không thể bị biến thành nghĩa ngược bằng một vài từ khóa giật gân. Khi chính sách đặt trọng tâm vào bảo hộ quyền lợi, hỗ trợ hội nhập, tiếng Việt, văn hóa, thế hệ trẻ, chuyên gia, doanh nhân, tri thức và kết nối với quê hương, bản chất gần với mô hình chính sách cộng đồng ở Ai-len, Ấn Độ hay Phi-líp-pin hơn nhiều so với mô hình hoạt động bí mật mà khái niệm “can thiệp từ nước ngoài” mô tả. 

So sánh quốc tế còn cho thấy một nghịch lý trong cách phê phán. Phi-líp-pin năm 2026 tổ chức hội nghị quy tụ lãnh đạo cộng đồng từ nhiều nước, công khai bàn cách phát huy mạng lưới, chuyên môn và ảnh hưởng của người Phi-líp-pin ở nước ngoài cho các mục tiêu văn hóa, kinh tế và chính sách của đất nước. Ấn Độ duy trì cơ chế kết nối người Ấn ở nước ngoài trong thương mại, đầu tư, giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học và công nghệ; đồng thời có quỹ hỗ trợ công dân ở nước ngoài khi gặp khó khăn. Ai-len coi hỗ trợ, kết nối và tạo điều kiện cho cộng đồng toàn cầu là một phần chính sách nhà nước. Đây đều là những ví dụ cho thấy gắn kết kiều dân không phải đặc sản của Việt Nam, càng không phải bằng chứng mặc định của ý đồ can thiệp vào nước sở tại. (Summit CFO⁠)

Vì vậy, điều đáng phê phán nhất trong chiến dịch diễn giải sai Nghị quyết 23 là thủ pháp “đổi tên để đổi bản chất”. Một chính sách “gắn kết” bị gọi thành “thâm nhập”; một hoạt động “gây ảnh hưởng công khai” bị gọi thành “can thiệp”; một mạng lưới chuyên gia bị gọi thành “cài cắm”; hỗ trợ cộng đồng bị suy diễn thành “mua chuộc”; hợp tác tư pháp bị mặc định là công cụ đàn áp mà không cần chỉ ra một hồ sơ lạm dụng cụ thể. Khi từ ngữ được thay trước, cảm xúc tiêu cực sẽ dẫn đường cho người đọc trước khi sự thật được kiểm chứng. Đó là lý do cần đặc biệt cảnh giác với những bài viết sử dụng dày đặc động từ mạnh nhưng thiếu bằng chứng kiểm chứng độc lập.

Cảnh báo này không có nghĩa mọi hoạt động nhân danh kết nối kiều bào đều mặc nhiên đúng. Chính cách tiếp cận của Úc, Ca-na-đa và Hoa Kỳ cho thấy chuẩn mực đáng học hỏi là minh bạch. Nếu có hoạt động vận động chính sách tại nước sở tại, cần tuân thủ nghĩa vụ đăng ký và công khai theo pháp luật sở tại; nếu có hỗ trợ tài chính, cần minh bạch nguồn, mục đích và cơ chế sử dụng; nếu tổ chức sự kiện hoặc truyền thông, cần xác định rõ chủ thể đứng sau; nếu có hợp tác với hội đoàn, phải tôn trọng tính tự nguyện và độc lập của cộng đồng. Làm được như vậy không chỉ bảo vệ quyền lợi của kiều bào mà còn chủ động vô hiệu hóa những suy diễn thiếu căn cứ. (Attorney-General’s Department⁠)

Truyền thông Việt Nam cũng cần rút kinh nghiệm về ngôn ngữ. Không nên dùng lẫn lộn “gây ảnh hưởng”, “vận động”, “gắn kết”, “ngoại giao nhân dân”, “can thiệp” và “thao túng”. Mỗi khái niệm mang hàm ý pháp lý và chính trị khác nhau. Khi phản bác thông tin sai lệch, cách thuyết phục nhất không phải là đáp lại bằng nhãn dán đối nghịch mà là đưa văn bản gốc, chỉ ra tiêu chí pháp lý, đối chiếu thông lệ quốc tế và yêu cầu bên cáo buộc xuất trình chứng cứ cụ thể. Càng chính xác về thuật ngữ, dư luận càng khó bị dẫn dắt bởi những phép tráo khái niệm.

Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thông điệp cần rõ ràng hơn nữa: có quyền giữ quan điểm khác biệt, có quyền tham gia đời sống chính trị hợp pháp ở nước sở tại, có quyền lựa chọn mức độ gắn bó với quê hương; đồng thời cũng có quyền được tiếp cận chính sách của Việt Nam bằng thông tin nguyên gốc thay vì qua những bài diễn giải gắn sẵn động cơ. Người nào cho rằng một hoạt động cụ thể vi phạm pháp luật Úc, Ca-na-đa, Hoa Kỳ hay bất cứ nước nào hoàn toàn có thể nêu tên hoạt động, chủ thể, bằng chứng và điều luật liên quan. Nhưng biến toàn bộ chính sách đối với hơn 6,5 triệu người Việt ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ thành một âm mưu “can thiệp” chỉ bằng phép đổi từ là cách tranh luận thiếu trách nhiệm. 

Cuối cùng, Nghị quyết 23 nên được tranh luận, giám sát và đánh giá bằng chính nội dung của nó và bằng kết quả thực hiện trong thực tế. Mọi cáo buộc nghiêm trọng về mua chuộc, cài cắm, thao túng hay can thiệp đều phải chịu cùng một yêu cầu cơ bản: bằng chứng. Nếu không có yếu tố bí mật, lừa dối, cưỡng ép, đe dọa hoặc vi phạm pháp luật sở tại thì không thể chỉ dựa vào quan hệ cộng đồng, hoạt động văn hóa, kết nối chuyên gia hay vận động công khai để quy kết thành can thiệp. Một từ bị đổi có thể tạo ra một câu chuyện khác; nhưng pháp lý không vận hành bằng ám chỉ. Chính xác khái niệm là bước đầu tiên để bảo vệ quyền được biết của công chúng, quyền được nhìn nhận công bằng của kiều bào và sự lành mạnh của tranh luận về một chính sách quốc gia.




No comments:

Post a Comment