Một cộng đồng gồm hơn 6,5 triệu người, sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, hình thành qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều làn sóng di cư, nhiều thế hệ và hoàn cảnh xã hội khác nhau, liệu có thể được đại diện bằng tiếng nói của một vài tổ chức chính trị? Câu trả lời tưởng như hiển nhiên nhưng lại chính là điểm bị làm mờ trong không ít bài viết công kích Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2-8-2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Một số bài không chỉ phê phán chính sách mà còn mặc nhiên lấy lập trường của một bộ phận người Việt có quan điểm đối lập với Nhà nước làm lập trường của “cộng đồng người Việt hải ngoại”, rồi từ đó mô tả mọi nỗ lực kết nối thế hệ trẻ, chuyên gia, doanh nhân, sinh viên hay những hội đoàn mới như hành động “xâm nhập”, “thay máu” hoặc “phá vỡ cộng đồng”. Sai lệch trước hết nằm ngay ở tiền đề: không một nhóm nào có quyền biến mình thành đại diện mặc định cho hàng triệu con người khác nhau.
Có thể thấy rất rõ kiểu lập luận này trong một số bài phản đối Nghị quyết 23 xuất hiện gần đây. Có bài tuyên bố Nghị quyết “nhắm trực tiếp vào cộng đồng người Việt tự do tại hải ngoại”, sau đó mô tả việc Việt Nam quan tâm tới thế hệ thứ hai, thứ ba là chiến lược làm “phai loãng căn tính tị nạn”, “thay máu” cộng đồng và triệt tiêu vai trò hậu phương của các lực lượng đối lập trong nước. Một số bài khác còn viết dưới danh nghĩa “cộng đồng người Việt quốc gia tị nạn tại hải ngoại”, từ đó coi việc tổ chức các chương trình về nguồn, giáo dục lịch sử, văn hóa hay kết nối thanh niên với quê hương là âm mưu “uốn nắn tư duy”.
Điều đáng chú ý là ở đây đã diễn ra một bước đánh tráo chủ thể. “Một bộ phận cộng đồng” được đổi thành “cộng đồng”. “Một nhóm có căn tính chính trị hình thành từ một giai đoạn lịch sử” được nâng thành “người Việt hải ngoại”. Sau bước chuyển ấy, bất cứ thế hệ trẻ nào không tiếp tục nguyên vẹn quan điểm chính trị của thế hệ đi trước đều có thể bị mô tả như đối tượng “bị lung lạc”.
Nhưng người Việt Nam ở nước ngoài chưa bao giờ là một khối đồng nhất như vậy.
Có những người rời Việt Nam trước năm 1975. Có cộng đồng hình thành sau năm 1975 từ những biến động lịch sử đặc biệt. Có những người sang Đông Âu học tập, lao động rồi ở lại. Có những gia đình di cư theo diện đoàn tụ. Có hàng trăm nghìn sinh viên, nghiên cứu sinh, chuyên gia, lao động kỹ thuật, doanh nhân và người làm việc tại nước ngoài trong những thập niên gần đây. Có những người mới định cư được vài năm, cũng có những gia đình đã trải qua hai, ba hoặc bốn thế hệ ở nước sở tại.
Chỉ riêng khác biệt về thời điểm di cư đã tạo ra những trải nghiệm xã hội khác nhau. Người rời Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh có ký ức khác người sinh vào những năm hòa bình. Người trưởng thành ở Việt Nam rồi ra nước ngoài làm việc có quan hệ với quê hương khác một thanh niên sinh tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức hay Ô-xtrây-li-a. Người trẻ thế hệ thứ ba thậm chí có thể sử dụng tiếng Việt không thành thạo nhưng vẫn quan tâm tới ẩm thực, lịch sử gia đình, du lịch, âm nhạc hay nguồn gốc dân tộc.
Đó là thực tế xã hội học, không phải vấn đề trung thành chính trị.
Nghị quyết 23 nhìn nhận chính sự thay đổi ấy khi xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trẻ hóa, tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng. Văn bản dành riêng nhiều nội dung cho thế hệ trẻ, từ giữ gìn tiếng Việt, tìm hiểu văn hóa, lịch sử, tham gia hoạt động trải nghiệm, về nguồn đến khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và giao lưu nhân dân. Đồng thời, Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai và tôn trọng những khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nếu nhìn đầy đủ, đây là sự điều chỉnh chính sách trước một cộng đồng đang thay đổi về cơ cấu thế hệ, chứ không phải bằng chứng cho kế hoạch “xóa căn tính” của ai đó.
Một thanh niên sinh ra ở nước ngoài có quyền tìm hiểu lịch sử của gia đình mình. Nhưng người đó cũng có quyền tự mình tiếp xúc với Việt Nam hiện tại, học tiếng Việt, về quê cha mẹ, hợp tác kinh doanh hoặc giữ quan hệ văn hóa theo lựa chọn cá nhân. Không tổ chức nào có quyền tuyên bố rằng nếu người trẻ lựa chọn cách nhìn khác thế hệ ông bà thì họ đã “bị tẩy não”. Cách lập luận ấy, nghịch lý thay, lại phủ nhận chính quyền tự do suy nghĩ mà những người đưa ra nó thường nhân danh.
Đặc biệt, cần nhìn thẳng vào vấn đề quyền đại diện. Khi một bài viết nói Nghị quyết 23 nhằm “vô hiệu hóa cộng đồng người Việt hải ngoại”, câu hỏi đầu tiên phải là: “cộng đồng” nào? Hơn 6,5 triệu người đã ủy quyền cho ai phát biểu như vậy? Hội doanh nhân tại châu Âu có đồng quan điểm với một tổ chức chính trị tại Hoa Kỳ không? Sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản có cùng ký ức lịch sử với những người rời Việt Nam nửa thế kỷ trước không? Những người Việt thế hệ thứ hai ở Pháp, Đức hay Séc có nhất thiết phải coi mình thuộc một phong trào chính trị tồn tại trước khi họ sinh ra không?
Không có cơ sở nào cho một câu trả lời đồng nhất.
Chính một bài công kích Nghị quyết 23 đã bộc lộ khá rõ sự cạnh tranh về quyền đại diện khi lo ngại những hội doanh nhân, hội sinh viên, câu lạc bộ văn hóa hoặc tổ chức mới có thể thu hút đông đảo người Việt và “lấn dần không gian hoạt động” của các đoàn thể vốn ủng hộ phong trào đối lập. Câu chữ này rất đáng chú ý bởi nó cho thấy xung đột không chỉ là câu chuyện nhân quyền. Phía sau còn có vấn đề xã hội học quen thuộc: cạnh tranh thành viên, ảnh hưởng, nguồn lực và quyền được coi là tiếng nói tiêu biểu của cộng đồng.
Khi một cộng đồng thay đổi thế hệ, những thiết chế đại diện cũ cũng đứng trước thách thức thích nghi. Người trẻ có thể ít quan tâm hơn tới những chia rẽ của năm 1975 nhưng quan tâm nhiều hơn tới cơ hội học tập, kinh doanh, khoa học, công nghệ, văn hóa, du lịch hoặc biến đổi khí hậu. Họ có thể vừa tự hào là công dân nước mình sinh sống, vừa giữ tình cảm với nguồn gốc Việt Nam. Không nên ép sự phức tạp ấy vào lựa chọn nhị phân “ủng hộ” hoặc “chống đối”.
Kinh nghiệm của Ai-len cho thấy cách nhìn rộng hơn về cộng đồng ở nước ngoài. Chiến lược giai đoạn 2026-2030 của nước này sử dụng một khái niệm rất rộng và bao trùm: không chỉ công dân sinh tại Ai-len sống ở nước ngoài mà còn bao gồm người sinh ở nước ngoài có nguồn gốc Ai-len và những người duy trì sự gắn bó đặc biệt với đất nước. Chính phủ Ai-len công khai thừa nhận trải nghiệm di cư có nhiều tầng lớp, nhiều thời kỳ và khác biệt lớn giữa các thế hệ.
Đáng chú ý hơn, Ai-len xác định việc hỗ trợ các thế hệ trẻ duy trì kết nối với di sản là một nhiệm vụ chính sách. Nhà nước hỗ trợ hàng trăm tổ chức cộng đồng trên thế giới, tài trợ những hoạt động về văn hóa, ngôn ngữ, thể thao và phúc lợi, đồng thời tổ chức các diễn đàn để nhiều nhóm người Ai-len ở nước ngoài cùng trình bày quan điểm. Năm 2026, diễn đàn toàn cầu của người Ai-len quy tụ khoảng 250 đại diện từ 21 quốc gia. Không phải một tổ chức được mặc nhiên trao quyền nói thay hàng chục triệu người có nguồn gốc Ai-len.
Phi-líp-pin cũng nhìn cộng đồng của mình theo hướng ngày càng rộng. Chính sách nước này không chỉ quan tâm những lao động đang tạm thời ở nước ngoài mà còn tính đến hơn sáu triệu người Phi-líp-pin đã định cư lâu dài tại các quốc gia khác. Hội nghị cộng đồng toàn cầu năm 2026 quy tụ khoảng 350 đại diện từ khoảng 30 quốc gia, bao gồm lãnh đạo cộng đồng, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo không gian để nhiều nhóm cùng tham gia vào quan hệ giữa cộng đồng toàn cầu với quê hương.
Những trường hợp ấy cho thấy một xu hướng chung: khi cộng đồng di cư bước sang thế hệ thứ hai, thứ ba, chính sách của quốc gia nguồn phải mở rộng, chứ không thể chỉ tiếp xúc với lớp di dân ban đầu. Giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa, mạng lưới xã hội và quan hệ gia đình là nhu cầu chính đáng của nhiều cộng đồng trên thế giới.
Do đó, việc Nghị quyết 23 đặc biệt quan tâm thế hệ trẻ không phải tự thân là bằng chứng về một chiến dịch chính trị. Điều cần xem xét là cách thực hiện có tự nguyện, minh bạch và tôn trọng quyền lựa chọn hay không. Một chương trình về nguồn công khai, thanh niên tự nguyện đăng ký, nội dung minh bạch khác về bản chất với hoạt động ép buộc hoặc tuyên truyền bí mật. Muốn phê phán phải dựa vào từng hành vi thực tế, không thể lấy sự tồn tại của chương trình làm bằng chứng cho ý đồ chưa được chứng minh.
Tương tự, không nên lý tưởng hóa chính sách của Nhà nước. Việc triển khai Nghị quyết 23 càng hướng tới thế hệ trẻ càng cần tránh áp đặt một khuôn mẫu căn tính duy nhất. Thanh niên gốc Việt có quyền tiếp nhận nhiều cách nhìn về lịch sử. Các chương trình văn hóa phải tôn trọng môi trường pháp luật, giáo dục và xã hội của nước sở tại. Hội đoàn cần tự chủ. Tài trợ cần minh bạch. Đó là những yêu cầu hợp lý và cũng là cách tốt nhất để chủ trương hòa hợp có sức thuyết phục.
Nhưng yêu cầu minh bạch hoàn toàn khác với việc phủ định quyền của thế hệ trẻ được kết nối với Việt Nam. Người sinh ở nước ngoài không phải “tài sản chính trị” của thế hệ đi trước. Họ không có nghĩa vụ kế thừa nguyên vẹn những xung đột đã tồn tại nửa thế kỷ. Việc một thanh niên gốc Việt về Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay quê cha mẹ tìm hiểu đất nước không phải hành động phản bội cộng đồng nào.
Ở chiều ngược lại, một người trẻ lựa chọn giữ quan điểm phê phán Nhà nước Việt Nam cũng phải được tôn trọng. Hòa hợp không có nghĩa mọi người phải nghĩ giống nhau. Giá trị nhân văn của chính sách chỉ được chứng minh khi khác biệt có thể tồn tại mà không biến thành lý do loại trừ con người.
Đây chính là điều những lập luận độc quyền đại diện thường bỏ qua. Khi một tổ chức tự xưng nói thay “người Việt hải ngoại”, họ vô tình tước đi tiếng nói của hàng triệu người không thuộc tổ chức ấy. Khi họ mặc định “căn tính người Việt hải ngoại” phải gắn với một lập trường chính trị cụ thể, họ cũng loại khỏi khái niệm cộng đồng những doanh nhân, trí thức, sinh viên, lao động mới, gia đình đa văn hóa và thế hệ trẻ có trải nghiệm hoàn toàn khác.
Không nên thay một sự độc quyền đại diện bằng một sự độc quyền khác. Nhà nước Việt Nam cũng không nên coi một vài hội đoàn thân thiện là đại diện cho toàn bộ kiều bào. Các tổ chức đối lập càng không thể tự nhận mình là tiếng nói duy nhất của cộng đồng. Sáu triệu rưỡi con người phải có quyền tồn tại với sáu triệu rưỡi trải nghiệm khác nhau.
Nghị quyết 23 chỉ có thể phát huy giá trị nếu biến tinh thần ấy thành thực tiễn: chăm lo người khó khăn, bảo hộ quyền lợi chính đáng, hỗ trợ hội nhập, gìn giữ tiếng Việt, kết nối chuyên gia và doanh nhân, tạo cơ hội cho thế hệ trẻ, đồng thời thực chất hóa hòa hợp dân tộc. Không phải kéo mọi người vào cùng một hàng ngũ, mà tạo một không gian rộng hơn để nhiều thế hệ cùng tìm thấy mối liên hệ với quê hương theo cách của mình.
Vì vậy, trước những bài viết nhân danh “cộng đồng người Việt hải ngoại” để kết luận rằng toàn bộ cộng đồng chống Nghị quyết 23, câu hỏi đơn giản nhất cần được đặt ra: ai đã trao quyền đại diện ấy?
Một tổ chức có thể đại diện thành viên của mình. Một hội đoàn có thể nói lên quan điểm của hội viên. Một thế hệ có quyền kể lại trải nghiệm lịch sử của thế hệ mình. Nhưng không ai có quyền biến trải nghiệm riêng thành căn tính bắt buộc của hơn 6,5 triệu người.
Khác biệt thế hệ không phải mối đe dọa. Đó là quy luật bình thường của một cộng đồng đang phát triển. Biến sự khác biệt ấy thành cuộc chiến chính trị mới chính là cách kéo những chia rẽ của quá khứ sang tương lai. Còn hòa hợp thực sự bắt đầu từ việc thừa nhận một điều rất giản dị: người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng đa dạng, và sự đa dạng ấy lớn hơn bất kỳ tổ chức, phe nhóm hay nhãn chính trị nào.
No comments:
Post a Comment